|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 201/2024/HS - ST Ngày 10 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Cường. 2. Ông Lò Văn Chung.
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn A - Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lường Văn C và bà Lường Thị S1; Bị cáo có vợ là Vì Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 2002 con nhỏ sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 12/3/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vì Thị H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 00 phút, ngày 12/3/2024 tổ công tác Công an xã B, huyện S làm nhiệm vụ tại bản P1, xã B, huyện S phát hiện 02 thanh niên đang điều khiển trên một xe mô tô có biểu hiện nghi vấn tội phạm ma túy. Qua kiểm tra thì người điều khiển xe khai nhận là Lường Văn A, sinh năm 1984, nơi cư trú bản P, xã B, huyện S, người ngồi sau khai nhận là Quàng Văn C, sinh năm 2004, nơi cư trú bản P, xã B, huyện S. Tổ công tác phát hiện tại túi áo sơ mi bên phải của Lường Văn A có 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng, A khai nhận là Heroine và Hồng phiến mục đích mua về sử dụng. Còn Quàng Văn C là người đi ăn đám cưới về gặp A ở dọc đường nên xin đi nhờ xe, C không biết việc A có tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã đưa A cùng vật chứng liên quan về trụ sở UBND xã B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, tạm giữ A 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B2-509.10.
Ngày 13/3/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Các mảnh viên nén màu hồng cân tịnh có khối lượng 0,04 gam, đã trích hết làm mẫu giám định ký hiệu H1. Chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,27 gam, trích 0,12 gam làm mẫu giám định ký hiệu H2, vật chứng còn lại 0,15 gam lưu kho ký hiệu L.
Tại bản kết luận số 699/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04 gam. Mẫu ký hiệu H2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của C phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,12 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,04 gam, loại Methamphetamine và 0,27 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của C phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất". (BL: 22-23).
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 12/3/2024, A mang theo số tiền 50.000đ và điều khiển xe mô tô từ nhà đến bản B, xã B, huyện S để tìm mua ma túy. Đến bản B thì A gặp một người đàn ông không quen biết, A hỏi mua 50.000₫ ma túy gồm Heroine và Hồng phiến từ người đàn ông này, người đàn ông nhận tiền rồi lấy từ trong người ra đưa cho A 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine và Hồng phiến. A nhận lấy gói ma túy cất giấu vào túi áo sơ mi trước ngực đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay về. Trên đường về, A gặp Quàng Văn C cùng bản đang đi bộ dọc đường, khi C xin đi nhờ xe thì được A cho ngồi nhờ xe đi về nhưng không nói cho C biết việc A cất giấu ma túy trong người. Đến 18 giờ cùng ngày, khi A điều khiển xe chở C về đến địa phận bản P1, xã B, huyện S thì bị tổ công tác Công an xã B làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 142/CT-VKSSM ngày 06 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lường Văn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lường Văn A từ 01 năm 08 tháng - 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định, 01 mảnh Nilon màu xanh và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Trả lại cho cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, có biển kiểm soát 26B2-509.10. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị trình bày tại phiên tòa: Chị là vợ của bị cáo Lường Văn A, chiếc xe là tài sản chung và là phương tiện duy nhất của gia đình chị, khi bị cáo mang xe đi mua ma túy chị không biết. Chị đề nghị xem xét trả lại cho chị chiếc xe để làm phương tiện phục vụ sinh hoạt gia đình.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 18 giờ 10 phút, ngày 12/3/2024 đối với Lường Văn A cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 699/KL ngày 15/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,04 gam, loại Methamphetamine và 0,27 gam, loại Heroine (Heroin)”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/3/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,27 gam ma túy loại Heroine và 0,04 gam loại Methamphetamine (Tổng khối lượng hai chất là 0,31 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh Nilon màu xanh, 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô xác định là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết, vợ bị cáo có đề nghị được trả lại xe nên HĐXX chấp nhận.
[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra bị cáo khai không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án là đúng.
[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lường Văn A phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lường Văn A 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Heroine được đựng trong 01 túi nilon màu trắng; 01 mảnh Nilon màu xanh và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín theo đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0005509.
- Trả lại cho chị Vì Thị H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Blade, màu đen, BKS: 2682-509.10.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ – VKSSM ngày 06/6/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/6/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 201/2024/HS - ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 201/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng
