|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 201/2024/DS-PT Ngày: 07 - 5 – 2024 V/v Tranh chấp thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Hồ Minh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 530/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp thừa kế”
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 332/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 340/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Chị Dương Ngọc T. Sinh năm: 1996.
- Cháu Dương Ngọc Q. Sinh năm: 2013.
- Anh Dương Chí G. Sinh năm: 2004.
Người đại diện hợp pháp cho cháu Q: Bà Lâm Thị O, sinh năm 1977 (mẹ cháu Q).
Người đại diện hợp pháp của bà O, cháu Q là: Chị Dương Ngọc T, sinh năm 1996 (theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2023)
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1948 (Chết ngày 01/3/2024).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ H:
- Bà Dương Thị B;
- Ông Dương Văn T1;
- Ông Dương Văn G1;
- Ông Dương Văn B1;
- Ông Dương Văn Đ;
- Ông Dương Văn N (Chết).
- Vợ Lâm Thị O và con Dương Ngọc T, Dương Ngọc Q, Dương Chí G); Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Dương Văn Đ1 (Bị đơn).
- Ông Dương Văn T2 (Đã chết, không có vợ con).
- Bà Dương Thị C (Chết, không có chồng, con).
- Anh Dương Văn Đ1, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N1.
Địa chỉ: số B, L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
- Ông Dương Văn Đ.
- Ông Dương Văn B1.
- Ông Dương Văn G1.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Dương Văn T1.
- Bà Dương Thị B.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lâm Thị O; Địa chỉ: ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Do có kháng cáo của: Anh Dương Văn Đ1, là bị đơn.
Tại phiên tòa, chị T, anh Đ1 có mặt; các đương sự còn lại vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình hòa giải vụ án, nguyên đơn chị Dương Ngọc T trình bày: Ông nội của chị là ông Dương Văn L và bà nội là Nguyễn Thị H có chung 07 người con: Dương Thị B, Dương Văn T1, Dương Văn G1, Dương Văn N, Dương Văn B1, Dương Văn Đ, Dương Văn Đ1. Ông bà nội chị có tạo lập được phần đất diện tích 14 công (tầm 03 mét) tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau do ông nội chị là ông L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Năm 2014 ông nội chị có di chúc để lại cho cha chị là ông Dương Văn N một phần đất diện tích 01 công đất tương đương 1.296m² và một nền nhà ngang 07m dài 20m, diện tích 140m² đất vườn để cất nhà ở, cha chị cất nhà ở ổn định từ năm 1996 đến nay không tranh chấp (khi cho đất có lập tờ di chúc), bản gốc tờ di chúc chị không có giữ, theo chị được biết tờ di chúc bản gốc bà nội chị là bà Nguyễn Thị H cất giữ, cha mẹ chị chỉ giữ bản phô tô. Nay anh Đ1 chuyển tên GCNQSDĐ từ ông nội chị sang cho ông Đ1 đứng tên và lấy luôn phần đất của cha chị đã được ông nội cho. Theo chị được biết GCNQSDĐ của anh Đ1 đã thế chấp ngân hàng. Trên đất tranh chấp có căn nhà của cha mẹ chị ở từ năm 1996, khi đó ông nội chỉ mới cho cất nhà ở và một công đất để làm ruộng, đến năm 2014 ông nội mới có di chúc cho cha chị và cha chị canh tác cho đến khi qua đời sau đó mẹ chị tiếp tục canh tác, sau đó cho người khác mướn, anh Đ1 về mới lấy lại đất của cha mẹ chị và canh tác từ đó phát sinh tranh chấp. Nay chị cùng các em của chị yêu cầu anh Dương Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị H trả lại phần đất của cha chị được cho 1.436m². Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Dương Văn Đ1 trình bày: Anh không biết việc ông L cho đất ông N gì hết, anh cũng không liên quan gì do đất của anh được cấp GCNQSDĐ một cách hợp pháp, đúng quy định. Nguồn gốc đất của anh là từ bà Nguyễn Thị H là mẹ anh chuyển nhượng cho anh, được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ năm 2020 đứng tên anh diện tích 1.835m². GCNQSDĐ hiện anh đã thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh tỉnh C - Phòng giao dịch thị trấn S, phần đất anh được cấp giấy có 01 căn nhà của cha mẹ anh ở, sau này thấy nhà cũ anh thì đi làm ăn xa nên anh cất lại nhà tiền chế cho vợ chồng anh và bà H ở, nhà cũ vẫn chưa tháo dỡ do thờ cha anh chứ anh không thấy ai khác ở chỉ có bà H ở. Phần đất ruộng đang có tranh chấp từ khi anh nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H từ năm 2020 và canh tác đến nay. Anh không đồng ý theo yêu cầu đòi lại đất của nguyên đơn.
Quá trình hòa giải vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà thống nhất với ý kiến của anh Đ1, bà không biết gì về tờ di chúc, trước đây có lần ông Nguyễn Văn S (06 Xuân) công tác ở ấp có đem tờ giấy kêu bà lăn tay vào để lãnh thuốc cho ông L, dấu lăn tay trong tờ di chúc thì bà không biết, chữ Nguyễn Thị H phía dưới dấu lăn tay bà không có ghi do bà không biết chữ. Tại biên bản làm việc ngày 28/8/2023 bà H xác định vào ngày 24/3/2014 bà và chồng bà là ông Dương Văn L có lập tờ di chúc và chia đất cho các con trong đó có chia cho ông Dương Văn N là cha của các nguyên đơn 01 công tầm lớn đất ruộng và 01 nền nhà ngang 07m, dài 20m để cất nhà ở như trong tờ di chúc nguyên đơn cung cấp. Nay bà xác định ông N đã chết nên các nguyên đơn phải được nhận đất được chia, bà đồng ý giao đất cho nguyên đơn, thống nhất theo yêu cầu của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn G1 trình bày: Ông thống nhất theo ý kiến của chị T, phần đất tranh chấp là của ông L cha ông cho em của ông là Dương Văn N là sự thật, ông cũng yêu cầu anh Đ1, bà H trả lại đất cho chị T để chị T nuôi hai em nhỏ. Tờ di chúc của ông L là do ông Nguyễn Văn S (06 Xuân) viết, có sự chứng kiến và xác nhận của ông Nguyễn Vũ P là trưởng ấp, khi làm tờ di chúc thì cha ông là ông L còn minh mẫn, mẹ ông là bà H có lăn tay vào tờ di chúc.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị B trình bày: Theo bà được biết là trước đây ông L có cho ông N mượn 01 công đất để làm, sau này ông lượm qua đời thì bà H cho các con là ông G1, ông B1, ông Đ, ông Đ1 còn bà B, ông N, ông T1 thì mẹ bà không có cho. Sau này các anh của bà có chuyển nhượng cho người khác thì bà B, ông T1 không có ký tên. Bà không biết có tờ di chúc, khi hòa giải ở địa phương thì bà mới biết có tờ di chúc chứ trước giờ bà không có nghe. Nếu cha mẹ của bà có cho đất ông N thì ông N phải có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, nhà thì ông L cho ông N mượn đất để cất nhà ở, nhà ông N đã hư hỏng ông N có cất thêm phía sau để cho bà H ở.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 15/9/2023 Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T – Phòng G2 (Ngân hàng) có ý kiến: Không yêu cầu gì trong vụ án này và xin vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử đến khi vụ án kết thúc.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T xác định chỉ yêu cầu anh Đ1 trả lại phần đất cha chị được chia theo di chúc, rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 332/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:
Căn cứ các Điều 624, 628, 643, 659 của Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 100, 179, 188 của Luật đất đai; Căn cứ các Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 217; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Ngọc T, anh Dương Chí G, em Dương Ngọc Q - Công nhận một phần nội dung trong Tờ di chúc lập ngày 24/3/2014. Buộc anh Dương Văn Đ1 giao trả cho chị Dương Ngọc T, Dương Ngọc Q, Dương Chí G số tiền 208.680.000 đồng (hai trăm lẽ tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Đình chỉ đối với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 16/10/2023 ông Dương Văn Đ1 kháng cáo với nội dung đất của ông đã được cấp quyền sử dụng đất, được cụ H tặng cho hợp pháp, việc cha ông là cụ Dương Văn L cho đất cho ông Dương Văn N ông hoàn toàn không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm dừng phiên toà, thu thập hồ sơ tranh chấp giữa ông Dương Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị H.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm ông Dương Văn Đ1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, lý do ông cho rằng ông được cụ H tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét kháng cáo của ông Dương Văn Đ1 thấy rằng: Tại phiên Toà phúc thẩm ngày 11/01/2024 phía ông Đ đều trình bày nội dung là do ông Đ1 quản lý sử dụng đất mà không chăm lo cho cụ H tốt nên thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn, ông Đ cũng thừa nhận ông có cùng anh em của ông đến Uỷ Ban xã ký giao đất lại cho cụ H.
Căn cứ vào tài liệu hồ sơ thể hiện “Tờ Duy Chúc” lập ngày 24/3/2014 của cụ Dương Văn L chia đất cho các con gồm Dương Văn G1, Dương Văn N, Dương Văn B1, Dương Văn Đ, Dương Văn Đ1 (BL 16). Bản di chúc này các đương sự không cung cấp được bản gốc, chỉ là tài liệu photo. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn căn cứ vào tờ di chúc này là thiếu căn cứ. Thực tế cụ L chết ngày 15/6/2014 thì vào ngày 26/10/2016, cụ Nguyễn Thị H và các ông Dương Văn B1, Dương Văn Đ1, Dương Văn Đ, Dương Văn N, Dương Văn G1 tự thoả thuận chia tài sản thừa kế có nội dung “chúng tôi là những người thừa kế theo pháp luật của ông Dương Văn L... Được thừa hưởng một phần tài sản nhưng không nhận và đồng ý tặng cho toàn bộ thửa đất này lại cho mẹ ruột của mình là Nguyễn Thị H...”. Như vậy tại thời điểm này ông Dương Văn N đã không còn phần đất nào nên việc chị T, anh G và chị T đại diện hợp pháp của chị Q khởi kiện yêu cầu ông Dương Văn Đ1 và cụ Nguyễn Thị H trả lại phần đất của cha chị là ông Dương Văn N được cho 1.436m² là không có cơ sở. Xét nếu có việc cụ L lập di chúc cho đất ông N là thật thì đến thời điểm năm 2016 ông N cũng thể hiện ý chí không nhận đất và tặng cho cụ H và cụ H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017, hồ sơ thể hiện có thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ H và ông Đ1. Trình tự thủ tục do các đương sự tự thực hiện và cụ H không yêu cầu hoặc tranh chấp hợp đồng tặng cho trong vụ án này và cũng không ai tranh chấp với ông Đ1 khi ông Đ1 được cấp quyền sử dụng đất năm 2020.
Quá trình giải quyết, chị T trình bày không biết việc cha chị là ông N có tặng cho quyền sử dụng đất của ông cho cụ H hay không. Cấp phúc thẩm có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân xã K cung cấp thông tin về về thủ tục ông N từ chối nhận di sản. Tại Công văn số 89/UBND – Vp ngày 15/4/2023 Ủy Ban nhân dân Xã K có ý kiến “………những người thừa kế tự thoả thuận phân chia tài sản còn minh mẫn, nhận thức và làm chủ hành vi của mình, tự nguyện thoả thuận phân chia di sản và đã cùng ký tên vào văn bản trước mặt Phó Chủ tịch UBND xã và Công chức Tư pháp - Hộ tịch”. Như vậy xác định lời trình bày của ông Dương Văn Đ là có cùng anh em đến Uỷ ban ký giấy thống nhất giao đất cho cụ Nguyễn Thị H.
Từ việc ông Dương Văn N được nhận di sản thừa kế nhưng đã thống nhất tặng cho lại cho cụ Nguyễn Thị H, ông Dương Văn N không còn đất nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được nhận phần đất ông Dương Văn N được thừa kế diện tích 1.436m² là không có căn cứ.
[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị tạm ngừng phiên toà thu thập hồ sơ tranh chấp giữa cụ H và ông Đ1 để làm cơ sở giải quyết vụ án. Như phân tích trên, việc ông N tặng cho cụ H quyền sử dụng đất, cụ H đã đứng tên, thủ tục tặng cho giữa cụ H và ông N hợp pháp, không có ai tranh chấp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Dương Văn Đ1 không phải chịu án phí phúc thẩm, đã dự nộp được nhận lại.
[4] Chi phí đo đạc, thẩm định nguyên đơn phải chịu 7.105.000 đồng, đã nộp xong.
[5] Án phí sơ thẩm nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng. Án phí phúc thẩm bị đơn không phải chịu, do kháng cáo được chấp nhận.
[6] Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của ông Dương Văn Đ1. Sửa bản án sơ thẩm số 332/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Căn cứ các Điều 166, 624, 628, 643, 659 của Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 100, 179, 188 của Luật đất đai; Căn cứ Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Ngọc T, Dương Chí G, Dương Ngọc Q người đại diện hợp pháp là Lâm Thị O về việc buộc ông Dương Văn Đ1 và cụ Nguyễn Thị H trả lại phần đất của ông Dương Văn N được thừa kế diện tích 1.436m² toạ lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chi phí tố tụng: Chị Dương Ngọc T, Dương Chí G, Dương Ngọc Q phải chịu số tiền 7.105.000 đồng (đã nộp xong).
Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Dương Văn Đ1 không phải chịu. Chị Dương Ngọc T, anh Dương Chí G, em Dương Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng. Ngày 29/10/2021 đã dự nộp số tiền 1.077.000 đồng theo biên lai thu số 0004085 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đối trừ chị Dương Ngọc T, anh Dương Chí G, em Dương Ngọc Q được nhận lại 777.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hà |
Bản án số 201/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 201/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: từ chối nhận di sản; không chấp nhận kháng cáo
