|
TÒA ÁN NHÂN DÂN 01QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 201/2024/HS-ST
Ngày: 04/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thùy Dương
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thư - Giáo viên
- Ông Trương Thế Khôi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lương Thúy Hà - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- ĐÀO TUẤN ANH, sinh ngày 10/4/2005; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Đào Văn D, sinh năm 1978; con bà Lưu Thị D1, sinh năm 1984 (bà D1 có mặt tại phiên tòa). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. D2 chỉ bản số 113 do Công an quận Đ lập ngày 29/01/2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị bắt ngày 09/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- VŨ ANH TUẤN, sinh ngày 14/8/2007; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện tại: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Vũ Duy G, sinh năm 1986; con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985. Bị cáo là con một. D2 chỉ bản số 114 do Công an quận Đ lập ngày 29/01/2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Vũ Duy G, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985. Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Ông G có mặt tại phiên tòa.
- LƯƠNG THÀNH CÔNG, sinh ngày 18/7/2006; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT: xóm G, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Lương Văn C, sinh năm 1977 (bị cáo trình bày ông C đang điều trị ung thư tại bệnh viện); con bà Phạm Thị B, sinh năm 1987 (bị cáo trình bày bà B đã bỏ nhà đi từ khi bị cáo còn nhỏ đến nay chưa về). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. D2 chỉ bản số 117 do Công an quận Đ lập ngày 29/01/2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1987 và ông Lương Văn C, sinh năm 1977. Nơi đăng ký HKTT: xóm G, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Bà B, ông C vắng mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN TIẾN TRUNG, sinh ngày 14/7/2003; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1975; con bà: Trịnh Thị H, sinh năm 1973. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. D2 chỉ bản số 115 do Công an quận Đ lập ngày 29/01/2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- ĐỖ VĂN TRƯỜNG, sinh ngày 09/01/2006; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện tại: Xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Đỗ Văn S, sinh năm 1961; con bà Trần Thị M (bà M có mặt tại phiên tòa), sinh năm 1963. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 05. D2 chỉ bản số 128 do Công an quận Đ lập ngày 31/01/2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Trần Thị M, sinh năm 1963 và ông Đỗ Văn S, sinh năm 1961. Nơi đăng ký HKTT: Xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Bà M có mặt tại phiên tòa.
- PHÙNG QUANG THỊNH, sinh ngày 04/6/2006; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nơi đăng ký HKTT: xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Văn hóa: 8/12. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Phùng Văn D3, sinh năm 1975; con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. D2 chỉ bản số 116 do Công an quận Đ lập ngày 29/01/2024. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Phùng Văn D3, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986. Nơi đăng ký HKTT: xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Ông D3 có mặt tại phiên tòa.
* Trợ giúp viên pháp lý:
- - Ông Nguyễn Quang P - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H - bào chữa cho các bị cáo Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2. Ông P có mặt tại phiên tòa.
- - Bà Đinh Thị Thanh H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H - bào chữa cho các bị cáo Vũ Anh T3 và Lương Thành C1.
Bà H1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và gửi bản bào chữa cho bị cáo Anh T3 và bị cáo C1.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đinh Ngọc S1, sinh năm 2001, đăng ký HKTT: Thôn A, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Hiện trú tại: Số D ngõ D H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 08/01/2023, Lương Thành C1, Nguyễn Tiến T4, Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2 cùng nhóm bạn (khoảng 5, 6 người) ngồi ăn và uống bia tại quán bia số B phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, Lương Thành C1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang biển kiểm soát 29X1-694.95 của Nguyễn Tiến T4 để đi đón bạn. Khi C1 đi đến khu vực ngõ B Đê L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội thì xảy ra va chạm với xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA màu đen do Đào Tuấn A điều khiển chở Vũ Anh T3 ngồi phía sau. Sau va chạm, Tuấn A gọi C1 quay lại. C1 dừng xe và đi bộ về phía vị trí Tuấn A và T3 đang đứng. Do đang say rượu nên Tuấn A và T3 bực tức, T3 nhặt 01 ống nước bằng nhựa màu xám dài khoảng 50cm bên lề đường rồi cầm bằng tay phải vụt 02 phát theo phương ngang, chiều từ phải qua trái trúng vào lưng và đùi của C1; Tuấn A dùng tay trái nhặt 01 viên gạch màu đỏ (kích thước khoảng 10cm x 10cm) bên lề đường rồi đập 02 cái theo phương ngang, chiều từ trái qua phải vào vùng đầu và mặt của C1 thì viên gạch rơi xuống đất; lúc này tay trái Tuấn A đang cầm mũ bảo hiểm màu đen, Tuấn A chuyển sang tay phải và dùng tay phải đập theo chiều từ dưới lên trúng vào vùng mặt của C1. C1 bị chảy nhiều máu, sợ hãi nên xin lỗi, Tuấn A và T3 chửi bởi C1 rồi điều khiển xe bỏ đi. C1 gọi bạn là L1 (không rõ nhân thân) đến đón và chở về quán bia tại số B phố H. Tại đây, C1 nói với nhóm bạn về việc bị 02 nam thanh niên đánh gây thương tích tại ngõ B Đê L. Quá trình nói chuyện, nhóm bạn của C1 bực tức nên rủ nhau đi tìm 02 nam thanh niên để trả thù. Sau đó, Phùng Quang T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mang biển kiểm soát 29X1-694.95 chở Nguyễn Tiến T4, Đỗ Văn T2 và C1 ngồi phía sau đi quanh khu vực phố H để tìm đánh T3 và Tuấn A. Khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực gần ngõ D H, C1 phát hiện T3 và Tuấn A đang điều khiển xe đạp điện đi cùng chiều đã hô hét, chửi bới đuổi theo T3 và Tuấn A. Do sợ hãi nên Tuấn A xuống xe chạy bộ vào quán C2 ngõ D H (đây là nơi T3 và Tuấn A làm việc), T3 điều khiển xe đạp điện đuổi theo sau. Quá trình bỏ chạy, T3 bỏ lại xe đạp điện đổ trước cửa quán C2 rồi chạy lên tầng 3 của quán cơm trốn, Tuấn A trốn trong bếp. Nhóm của Công đuổi đến nơi không thấy T3 và Tuấn A đâu, chỉ thấy chiếc xe đạp điện đổ trước cửa quán C2 thì bực tức nên C1, T2 và T4 nhặt các viên gạch ở lề đường rồi ném, đập xe đạp điện của T3. Sau đó, C1, T2, T1 và T4 cùng nhau hò hét, chửi bới, đập cửa quán cơm và hô hoán dọa đốt xe đạp điện khiến người dân xung quanh hoang mang, lo sợ. Khoảng 03 phút sau, nhóm C1 không thấy T3 và Tuấn A đâu nên bỏ đi. Tuy nhiên,
cùng lúc này, T3 cầm 01 gậy bóng chày kim loại màu đen dài khoảng 80cm lấy từ hành lang tầng 3, Tuấn A lấy từ trong bếp 01 con dao chặt xương kích thước khoảng (07x22) cm, chuôi gỗ (cầm ở tay phải) và 01 con dao bài xương kích thước khoảng (04x22) cm, chuôi gỗ (cầm ở tay trái) chạy ra đuổi theo đánh nhóm của C1. T3 cầm gậy đập 01 phát vào vai trái của C1, và đập gậy bóng chày vào bụng của T1; Tuấn A cầm dao chém 01 nhát vào vai trái của T1 và chém 01 nhát vào sau lưng của T2. Sau đó, T3 và Tuấn A chạy vào trong quán cơm, nhóm của C1 lên xe bỏ về quán bia tại số B H. Sau đó, do T2 bị thương nặng nên nhóm bạn của C1 đưa T2 vào bệnh viện X khám và điều trị.
Khoảng 11 giờ ngày 09/01/2024, Nguyễn Tiến T4, Phùng Quang T1, Lương Thành C1 đến Công an phường Ô đầu thú về hành vi Gây rối trật tự công cộng. Tại Cơ quan điều tra, T4, T1, Công khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, T2, T1 và C1 đề nghị khởi tố vụ án hình sự và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng đã đánh gây thương tích cho mình.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, Đào Tuấn A và Vũ Anh T3 đến Công an phường Ô đầu thú về hành vi Cố ý gây thương tích. Tại Cơ quan điều tra, Tuấn A và Anh T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị can Trường, T1, C1 và T4.
Công an quận Đ đã thu giữ của Đào Tuấn A: 01 con dao chặt xương kích thước kích thước khoảng (07x22) cm, chuôi gỗ và 01 con dao bài xương kích thước khoảng (04x22) cm, chuôi gỗ; thu giữ của Vũ Anh T3: 01 gậy bóng chày kim loại màu đen dài khoảng 80cm và 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA màu đen có phần đầu xe bị hư hỏng; thu giữ của L2 Thành Công: 01 viên gạch hình hộp chữ nhật màu đỏ, 01 đoạn ống nước bằng nhựa hình tròn dài khoảng 20 cm.
Ngày 10/01/2024, các hộ dân sinh sống tại tổ dân phố số F, ngõ D H, phường Ô, quận Đ, Hà Nội gồm hộ ông Nguyễn Văn D4, Phạm Đức H2, Triệu Nguyên Đ có Đơn kiến nghị gửi Công an phường và Ủy ban nhân dân phường Ô1 đề nghị xác minh, xử lý nghiêm đối với các đối tượng đã gây mất trật tự tại ngõ D H vào ngày 09/01/2024 theo đúng quy định pháp luật.
Ngày 18/01/2024, Ủy ban nhân dân phường Ô1 có Công văn số 23/UBND gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ, nội dung: Ngày 09/01/2024, UBND phường có nhận được trình báo từ người dân trên địa bàn phường về nội dung vụ việc có nhiều đối tượng có hành vi gây rối trật tự công cộng và đánh nhau gây thương tích tại khu vực đầu ngõ D H vào thời điểm rạng sáng ngày 09/01/2024. Các đối tượng có hành vi hò hét, đập phá đồ đạc, chửi bới đe dọa. Vụ việc xảy ra khiến cho người dân tại khu phố cảm thấy hoang mang, lo sợ nên đã gọi điện trình báo cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Nhận thấy vụ việc có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, Ủy ban nhân dân phườnÔ1 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ làm rõ, xử lý nghiêm các đối tượng thực hiện hành vi nêu trên theo đúng quy định pháp luật.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 225/KLTTCT-TTPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận đối với thương tích của Đỗ Văn T2 như sau: Vết thương vết mổ dọc lưng phải: 03%; Vết mổ dẫn lưu thành ngực phải: 01%; Gãy xương sườn VI, VII, VIII phải: 05,88%; Tổn thương
màng phổi phải đã phẫu thuật đặt dẫn lưu : 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đỗ Văn T2 tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của Đỗ Văn T2 do vật có cạnh sắc gây ra.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 401/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận đối với thương tích của Lương Thành C1 như sau: Sẹo vết thương vùng chẩm: 01%; Sẹo vết thương vùng gò má trái: 03%. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh L2 Thành Công tại thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh L2 Thành Công do vật tày, tày có cạnh gây nên.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 406/KLTTCT-TTPY ngày 02/4/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận đối với thương tích của Phùng Quang T1 như sau: Sẹo vết thương cánh tay trái: 02%. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phùng Quang T1 tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Phùng Quang T1 do vật sắc gây ra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Đ kết luận:
"Chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Nijia đã qua sử dụng đã thu hồi định giá 1.450.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng)."
Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Lương Thành C1, Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2 và Nguyễn Tiến T4, do giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.450.000 đồng, chưa đủ cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với C1, T2 và T4 theo quy định pháp luật.
Chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA màu đen có phần đầu xe bị hư hỏng thu giữ của Vũ Anh T3, xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đinh Ngọc S1 (sinh năm: 2001; Hộ khẩu thường trú: Số D ngõ D phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội). Xét thấy không liên quan đến vụ án, Công an quận Đ đã trao trả lại cho anh S1 theo quy định pháp luật.
Đối với thương tích của Đỗ Văn T2, nhận thấy thương tích không có di chứng và biến chứng nên T2 không làm đơn đề nghị giám định bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự của các bị cáo: Lương Thành C1, Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2 có yêu cầu Đào Tuấn A và Vũ Anh T3 bồi thường thiệt hại tổn hại về sức khỏe do T3 và Tuấn A đã gây ra thương tích cho mình. Tuy nhiên, quá trình điều tra T2, C1 và T1 trình bày chưa cung cấp được các tài liệu liên quan để xác minh mức độ thiệt hại, đề nghị cung cấp các tài liệu yêu cầu bồi thường cụ thể tại Tòa án. Người có quyền lợi liên quan là anh Đinh Ngọc S1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại do chiếc xe đã cũ, tiền sửa chữa không lớn.
Bản Cáo trạng số 121/CT-VKSĐĐ ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố:
- - Đào Tuấn Anh và Vũ Anh Tuấn về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- - Lương Thành C1, Nguyễn Tiến T4, Phùng Quang T1 và Đỗ Văn T2 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Gia đình và bị cáo Đỗ Văn T2 có Đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đào Tuấn A, do gia đình và bị cáo T2 đã nhận được tiền bồi thường từ phía gia đình Đào Tuấn A.
- - Gia đình và bị cáo Phùng Quang T1 đã có Đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đào Tuấn A, do gia đình và bị cáo T1 không yêu cầu tiền bồi thường từ phía gia đình Đào Tuấn A.
- - Bị cáo Lương Thành C1 nộp Đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Tuấn A1.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Công trình bày không yêu cầu gia đình bị cáo Đào Tuấn A, Vũ Anh T3 bồi thường.
Trợ giúp viên pháp lý Đinh Thị Thanh H1 gửi bản Luận cứ bào chữa cho bị cáo Vũ Anh T3 và Lương Thành C1 có nội dung: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên hai bị cáo đều tuổi chưa thành niên, sự quan tâm giáo dục của gia đình còn hạn chế, hiểu biết pháp luật thiếu thấu đáo, ở độ tuổi muốn khẳng định cái tôi, muốn khẳng định sức mạnh của mình nên đã hành động một cách thiếu biết. Cả 02 bị cáo đều ra đầu thú thể hiện sự ăn năn hối cải, mong muốn sửa chữa sai lầm của mình và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Với những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 90, 91 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức đề xuất của Viện kiểm sát cũng đủ yếu tố răn đe, để các bị cáo có cơ hội tu dưỡng, sửa chữa sai lầm và phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Ông Nguyễn Quang P - Trợ giúp viên pháp lý có quan điểm bào chữa cho bị cáo Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2 như sau: Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng của mình. Ngoài ra, bị cáo T2 và T1 lại là bị hại của hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Tuấn A, Anh T3. Quá trình tố tụng, các bị cáo đều có đơn ra đầu thú, thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể để các bị cáo có cơ hội tu dưỡng, sửa chữa sai lầm và phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã thay đổi 1 phần Cáo trạng, rút 1 phần truy tố bị cáo Đào Tuấn A và Vũ Anh T3 theo điểm c khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự do
02 bị cáo này đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường xong cho T1, T2, C1; T1, T2, C1 đã có đơn xin miễn giảm hình phạt cho Tuấn A, Anh T3. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- - Đối với bị cáo Đào Tuấn A: Áp dụng điểm đ khoản 2, Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt: 18 tháng - 20 tháng tù.
- - Đối với bị cáo Vũ Anh T3: Áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 134, điểm s, b khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt: 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách: 30 tháng - 36 tháng.
- - Đối với bị cáo Lương Thành C1: Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt: 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Tiến T4: Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt: 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đối với bị cáo Phùng Quang T1: Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt: 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
- - Đối với bị cáo Đỗ Văn T2: Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức hình phạt: 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 dao chặt xương, 01 dao bài xương, 01 gậy bóng chày, 01 viên gạch, 01 đoạn ống nước bằng nhựa.
Về trách nhiệm dân sự: Không./.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; Lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng vụ
án, phù hợp về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, tại khu vực đầu ngõ B Đê L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội, Đào Tuấn A và Vũ Anh T3 có hành vi dùng hung khí là 01 viên gạch hình hộp chữ nhật màu đỏ; 01 mũ bảo hiểm màu đen và 01 đoạn ống nước bằng nhựa hình tròn dài khoảng 20cm đánh Lương Thành C1 gây tổn hại sức khỏe 04%.
Sau đó, khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày tại khu vực đầu ngõ D phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội, để trả thù Tuấn A và T3 đã đánh C1, thì Phùng Quang T1, Nguyễn Tiến T4, Lương Thành C1 và Đỗ Văn T2 đã có hành vi "Gây rối trật tự công cộng", đập phá làm hư hỏng 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA trị giá 1.450.000 đồng.
Tiếp đến, Tuấn A và T3 đã có hành vi dùng hung khí là 01 con dao chặt xương kích thước khoảng (07x22) cm, chuôi gỗ; 01 con dao bài kích thước khoảng (04x22) cm, chuôi gỗ; 01 gậy bóng chày kim loại màu đen dài khoảng 80 cm đánh T2 gây tổn hại sức khỏe 12% và đánh T1 gây tổn hại sức khỏe 02%.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Tuấn A và T3 đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo C1, T4, T1 và T2 đủ dấu hiệu cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng", tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi đập phá chiếc xe đạp điện của C1, T2 và T4, do giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.450.000 đồng, chưa đủ cấu thành tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với C1, T2 và T4 theo quy định pháp luật.
[3] Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Đối với bị cáo Đào Tuấn A: Nhân thân bị cáo không xấu, chưa có tiền án tiền sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo Đào Tuấn A có đơn đầu thú hành vi phạm tội với cơ quan công an. Tại phiên tòa C1 và T1 trình bày C1, T1 không yêu câu gia đình Tuấn A phải bồi thường; T2 trình bày đã nhận đủ tiền bồi thường của Tuấn A; cả C1, T1, T2 đều có đơn xin giảm hình phạt cho Tuấn A; nên Tuấn A được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Đối với bị cáo Vũ Anh T3:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có đơn đầu thú hành vi phạm tội với cơ quan công an. Tại phiên tòa C1 và T1 trình bày C1, T1 không yêu cầu gia đình T3 phải bồi thường; T2 trình bày đã nhận đủ tiền bồi thường của T3; cả C1, T1,
T2 đều có đơn xin giảm hình phạt cho T3; do đó Vũ Anh T3 được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Đối với các bị cáo Lương Thành C1, Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2 và Nguyễn Tiến T4:
Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân các bị cáo không xấu, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo T4, C1, T1 có đơn đầu thú hành vi phạm tội với cơ quan công an nên đều được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt:
- - Đối với bị cáo Đào Tuấn A :
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi cố ý gây thương tích với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe của công dân. Đối với C1: Tuấn A dùng ½ viên gạch đập vào vùng đầu và mặt của C1, dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt C1; sau đó bị cáo có hành vi dùng 01 con dao bài xương và 01 dao chặt xương chém 01 nhát vào vai trái của T1 và chém 1 nhát vào lưng của T2 đã chủ yếu gây ra thương tích cho C1, T2, T1.
Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s của khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Khi quyết định hình phạt, xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với mức độ gây nguy hại cho xã hội mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
- · Đối với bị cáo Vũ Anh T3 :
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi cố ý gây thương tích với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe của công dân. Đối với C1: T3 dùng 01 ống nước bằng nhựa vụt vào lưng và đùi của C1, sau đó dùng gậy bóng chày bằng kim loại đập 1 phát vào bụng của T1 và 1 phát vào vai trái của C1.
Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s của khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và của Trợ giúp viên pháp lý, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Khi quyết định hình phạt, xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của hành vi nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thương tích bị cáo gây ra cho bị hại không lớn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly
ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo được làm lại cuộc đời, thể hiện được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước
- - Đối với các bị cáo Lương Thành C1, Phùng Quang T1, Đỗ Văn T2 và Nguyễn Tiến T4: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới trật tự, an toàn công cộng, gây tâm lý hoang mang cho mọi người xung quanh. Do đó cần có hình phạt nghiêm đủ để giáo dục các bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa và Trợ giúp viên pháp lý, căn cứ Điều 36 Bộ luật Hình sự để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Thời gian các bị cáo bị tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Không khấu trừ thu nhập cho các bị cáo C1, T2, Thịnh
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo T4.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Trường xác nhận gia đình bị cáo Tuấn A đã bồi thường xong cho T2.
C1, T1 không yêu cầu Tuấn A và T3 phải bồi thường cho C1, T1.
Người có quyền lợi liên quan là anh Đinh Ngọc S1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa và của 02 Trợ giúp viên pháp lý phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
- - Các bị cáo Đào Tuấn A, Vũ Anh T3 phạm tội "Cố ý gây thương tích”;
- - Các bị cáo Lương Thành C1, Nguyễn Tiến T4, Đỗ Văn T2 và Phùng Quang T1 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng";
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đào Tuấn A : 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Vũ Anh T3 : 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Anh T3 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 36, Điều 100 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Lương Thành C1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo đã bị tạm giữ 09 ngày từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 tương đương 27 ngày cải tạo không giam giữ, vì vậy bị cáo còn phải chấp hành thời hạn cải tạo không giam giữ là 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện X, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo C1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo C1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo C1.
+ Xử phạt Phùng Quang T1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo đã bị tạm giữ 09 ngày từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 tương đương 27 ngày cải tạo không giam giữ, vì vậy bị cáo còn phải chấp hành thời hạn cải tạo không giam giữ là 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo T1 cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo T1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T1.
+ Xử phạt Đỗ Văn T2 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo đã bị tạm giữ 09 ngày từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 tương đương 27 ngày cải tạo không giam giữ, vì vậy bị cáo còn phải chấp hành thời hạn cải tạo không giam giữ là 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời
hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện X, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo T2 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo T2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T2.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt Nguyễn Tiến T4 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo đã bị tạm giữ 09 ngày từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024 tương đương 27 ngày cải tạo không giam giữ, vì vậy bị cáo còn phải chấp hành thời hạn cải tạo không giam giữ là 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện M, tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Tiến T4 cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo T4 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T4.
Trường hợp các bị cáo C1, T4, T2, T1 thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Buộc các bị cáo C1, T4, T2, T1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của chính quyền địa phương và thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lí vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu tiêu huỷ :
- + 01 gậy bóng chày kim loại màu đen kích thước khoảng 80 cm.
- + 01 viên gạch hình hộp chữ nhật màu đỏ.
- + 01 ống nhựa hình tròn kích thước khoảng 20cm.
- + 01 con dao chặt xương kích thước khoảng 07 cm x 22 cm, chuôi gỗ.
- + 01 con dao bài xương kích thước khoảng 04 cm x 22 cm, chuôi gỗ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 195 ngày 16/5/2024 của Chi cục T5 ành án dân sự quận Đ).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người
đại diện theo pháp luật của bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vương Thùy Dương |
Bản án số 201/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 201/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Tuấn Anh, Vũ Anh Tuấn phạm tội "Cố ý gây thương tích”; Lương Thành Công, Nguyễn Tiến Trung, Đỗ Văn Trường và Phùng Quang Thịnh "Gây rối trật tự công cộng";
