|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 201/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Trí;
- Ông Huỳnh Văn Dứt.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 299/2024/TLST-HNGĐ về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2024/QĐXXST-HN ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Điểu Thị Hồng Ch, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp M, xã L, huyện N, tỉnh Bình Phước (Có mặt);
- Bị đơn: Ông Lâm Hữu T, sinh năm 1988 (theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988); địa chỉ: ấp (Khóm) T, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ hiện nay: Áp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Điểu Thị Hồng Ch trình bày: Bà và ông Lâm Hữu T tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2008 có đăng ký kết hôn, chung sống đến 2009 thì mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng thường xuyên cờ bạc không lo phụ giúp gia đình không thể giải quyết được nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2009 cho đến nay. Nay yêu cầu ly hôn với ông Lâm Hữu T; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Lâm Tuệ A, sinh ngày 05/06/2009. Con hiện đang sống với bà Hồng Ch khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; Về quan hệ tài sản chung: Không có; Về quan hệ nợ chung: Không có.
Tại phiên Tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại các biên bản làm việc, bị đơn ông Lâm Hữu T trình bày: Do tự tìm hiểu ông với bà Điểu Thị Hồng Ch tiến tới hôn nhân khoảng năm 2008, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2009 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay cãi nhau, nên không còn sống chung từ năm 2009 cho đến nay. Nay bà Điểu Thị Hồng Ch yêu cầu ly hôn ông đồng ý ; Về quan hệ con chung: Ông với bà Điểu Thị Hồng Ch có 01 con chung tên Lâm Tuệ A, sinh ngày 05/06/2009. Con hiện đang sống với bà Hồng Ch, khi ly hôn ông đồng ý để bà Hồng Ch tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con chung; Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lâm Hữu T được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Thuận vẫn vắng mặt nên Tòa án không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Điểu Thị Hồng Ch đối với ông Lâm Hữu T.
- Bà Điểu Thị Hồng Ch được tiếp tục chăm sóc con chung tên Lâm Tuệ An, sinh ngày 05/6/2009. Ông Lâm Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Điểu Thị Hồng Ch yêu cầu ly hôn với ông Lâm Hữu T, ông T có nơi cư trú ấp L, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Bị đơn ông Lâm Hữu T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp.
[3] Bà Điểu Thị Hồng Ch yêu cầu ly hôn với ông Lâm Hữu T, bà Ch và ông T có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà Ch trình bày, vợ chồng chung sống đến 2009 thì mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng thường xuyên cờ bạc không lo phụ giúp gia đình không thể giải quyết được nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2009 cho đến nay. Trong quá trình làm việc, ông T cũng thống nhất vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2009 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay cãi nhau, nên không còn sống chung từ năm 2009 cho đến nay. Nay bà Ch yêu cầu ly hôn, ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Ch. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của đương sự, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Ch và ông T là phù hợp.
[4] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, bà Ch và ông T xác định vợ chồng có 01 con chung tên Lâm Tuệ A, sinh ngày 05/6/2009 hiện đang chung sống với bà Ch. Bà Ch yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông T cũng đồng ý đối với yêu cầu này của bà Ch. Mặt khác, nguyện vọng của con chung muốn sống chung với mẹ, nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu này của bà Ch là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Ch không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về quan hệ tài sản chung: bà Ch và ông T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về quan hệ nợ chung: bà Ch và ông T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Các Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Điểu Thị Hồng Ch đối với ông Lâm Hữu T (theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988).
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Điểu Thị Hồng Ch với ông Lâm Hữu T (theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988).
- Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2008, ngày 21 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Bình Phước cấp cho bà Điểu Thị Hồng Ch và ông Lâm Hữu T (theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988) không còn giá trị pháp lý.
- - Về quan hệ con chung: bà Điểu Thị Hồng Ch được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Lâm Tuệ A, sinh ngày 05/6/2009. Ông Lâm Hữu T(theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988) không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Bà Điểu Thị Hồng Ch cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Lâm Hữu T(theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988) trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- - Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Điểu Thị Hồng Ch và ông Lâm Hữu T (theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988) xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Điểu Thị Hồng Ch và ông Lâm Hữu T (theo căn cước công dân Lâm Hửu T, sinh năm 1988) phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Điểu Thị Hồng Ch phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0015394 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 19 tháng 4 năm 2024. Bà Điểu Thị Hồng Ch đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
Bản án số 201/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 201/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu ly hôn với ông Lâm Hữu T; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Lâm Tuệ A, sinh ngày 05/06/2009. Con hiện đang sống với bà Hồng Ch khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; Về quan hệ tài sản chung: Không có; Về quan hệ nợ chung: Không có.
