Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 201/2025/KDTM-PT

Ngày: 27/6/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Đoan Trang

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Thảo

Bà Trương Thị Quỳnh Trâm

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiêm – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 29 tháng 5 và ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2025/TLPT-KDTM ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án sơ thẩm số 324/2024/KDTM-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1856/2025/QĐPT-KDTM ngày 01/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 5952/2025/QĐ-HPT ngày 29/4/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 8482/2025/QĐ-PT ngày 29/5/2025, giữa:

Nguyên đơn: Công ty T1

Trụ sở: Số A H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Vũ Hoài G, năm sinh 1977

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hoài L; ông Nguyễn Tiến D; bà Đỗ Thị Thanh H (theo Giấy ủy quyền số 29/UQ-TCTT ngày 17/11/2023)

Bị đơn: Công ty TNHH T2

Trụ sở: Số B đường P, Phường B, quận T, TP H

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Phan Văn K (P), năm sinh 1957

Thường trú: Số A Edwin Court N. SA. Australia

Chỗ ở hiện tại: Số G đường X, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty Cổ phần L2 (tên cũ Công ty TNHH L2)

Trụ sở: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị M, năm sinh 1964

2/ Công ty Cổ phần T2

Trụ sở: Xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn K (P), năm sinh 1957; trú tại: Số A E Court N. SA. Australia; Chỗ ở hiện tại: Số G đường X, Phường H, Quận A, TP H

Người kháng cáo: Công ty T1

Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình.

(Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm như sau:

[1.1] Nguyên đơn Công ty T1 (viết tắt Công ty T1) trình bày:

Ngày 17/4/2008, Công ty T1 và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T2 (viết tắt Công ty T2) ký hợp đồng tín dụng số T/08/19HCM và theo thỏa thuận, Công ty T1 cho Công ty T2 vay 4.800.000.000 đồng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà máy C có thời hạn 36 tháng, lãi suất 1,6%/tháng và lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần vào các ngày đầu tiên của mỗi qúy trong năm, lãi suất cho vay áp dụng lãi suất có điều chỉnh bằng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trả lãi của Công ty T1 + biên độ 0,75%/tháng nhưng không thấp hơn 1,6%/tháng và lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Để đảm bảo khoản vay cho Công ty T2, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn L2 (viết tắt Công ty L2) thế chấp toàn bộ giá trị tài sản trên đất tại thửa đất số 1, tờ bản đồ số “00” tại xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và Công ty Cổ phần T2 (viết tắt Công ty T2) thế chấp toàn bộ giá trị tài sản trên đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.

Ngày 02/01/2020, Công ty L2 tự nguyện trả toàn bộ tiền nợ vốn 4.800.000.000 đồng của Công ty T2 cho Công ty T1 và Công ty T1 đã thực hiện giải chấp một phần tài sản bảo đảm là toàn bộ tài sản gắn liền trên đất thuộc quyền sử dụng của Công ty L2. Do Công ty L2 đã thực hiện xong nghĩa vụ bảo đảm nên Công ty T1 không yêu cầu phát mãi các tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của Công ty L2 tại xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận trong trường hợp Công ty T2 không trả hoặc trả không đủ để thu hồi nợ.

Tính đến ngày 02/01/2020, Công ty T2 còn nợ Công ty T1 17.306.580.104 đồng, trong đó: Tiền nợ vốn 0 đồng, tiền nợ lãi 17.306.580.104 đồng. Trường hợp Công ty T2 không trả hoặc trả không đủ thì Công ty T1 yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân tỉnh G cấp ngày 08/4/2005 thuộc quyền sở hữu của Công ty T2 để thu hồi nợ.

[1.2] Bị đơn Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T2 vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

[1.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T2 vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

[1.4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần L2 trình bày: Công ty L2 cho Công ty T2 mượn tài sản để vay tiền và sau đó được Công ty T1 đồng ý cho Công ty T2 đưa tài sản vào thế để Công ty L2 lấy tài sản ra nhưng Công ty T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Công ty T2 trả nợ, vì vậy Công ty L2 yêu cầu được trả 4.800.000.000 đồng cho Công ty T2 đã vay của Công ty T1.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Bà Đỗ Thị Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của Công ty T1 xác định như sau:

Công ty T1 rút yêu cầu khởi kiện buộc Công ty T2 trả tiền nợ vốn là 4.800.000.000 đồng và rút yêu cầu phát mãi các tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của Công ty L2 tại xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận trong trường hợp Công ty T2 không trả hoặc trả không đủ để thu hồi nợ.

Yêu cầu Công ty T2 trả tiền lãi 17.306.580.104 đồng. Trường hợp Công ty T2 không trả hoặc trả không đủ, yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân tỉnh G cấp ngày 08/4/2005 thuộc quyền sở hữu của Công ty T2 để thu hồi nợ.

Công ty T2, Công ty L2 và Công ty T2 vắng mặt.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 324/2025/KDTM-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình đã tuyên:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty T1.
    1. Buộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T2 trả cho Công ty T1 số tiền nợ lãi là 17.306.580.104 (Mười bảy tỷ ba trăm lẻ sáu triệu năm trăm tám mươi nghìn một trăm lẻ bốn) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa trả, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục trả cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty cho vay.

    Thì hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là các tài sản trên đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 260680, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân tỉnh G cấp ngày 08 tháng 4 năm 2005.
  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 buộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T2 trả tiền nợ vốn 4.800.000.000 (Bốn tỷ tám trăm triệu) đồng và yêu cầu phát mãi toàn bộ giá trị tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của Công ty Cổ phần L2 tại thửa đất số 1, tờ bản đồ số “00” tại xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo hợp đồng thế chấp ngày 25 tháng 4 năm 2008.
  4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
    • Công ty Trách nhiệm Hữu hạn T2 phải chịu án phí 125.306.580 (Một trăm hai mươi lăm triệu ba trăm lẻ sáu nghìn năm trăm tám mươi) đồng.
    • Công ty T1 phải chịu án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.980.090 (Năm mươi tám triệu chín trăm tám mươi nghìn không trăm chín mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số XD/2010/08343 ngày 24 tháng 02 năm 2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2 (nay là thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty T1 được hoàn lại số tiền 58.680.090 (Năm mươi tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn không trăm chín mươi) đồng.

[2] Ngày 08/8/2024, Công ty T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung và huỷ bản án sơ thẩm.

[3] Ngày 13/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án sơ thẩm theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 13/QĐKNPT-VKS-KDTM đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 324/2024/KDTM-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

[4] Tại phiên toà phúc thẩm:

[4.1] Nguyên đơn trình bày giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng ý với Quyết định kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Tân Bình, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm.

[4.2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Ngày 13/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án sơ thẩm theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 13/QĐKNPT-VKS-KDTM đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 324/2024/KDTM-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.

Nội dung kháng nghị như sau:

- Ngày 01/02/2013, Chánh án Tòa án nhân dân quận Tân Bình ra Quyết định phân công giải quyết vụ án số 192/QĐPC, phân công Thẩm phán Phạm Thị Thanh H1 giải quyết vụ án thụ lý số 25/2013/TLST-KDTM ngày 01/02/2013. Sau đó, căn cứ các giấy triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác trong hồ sơ thì từ năm 2021 cho đến nay, Thẩm phán Võ Tuấn N giải quyết vụ án. Tuy nhiên, hồ sơ không có quyết định phân công cho Thẩm phán Võ Tuấn N giải quyết vụ án thay cho Thẩm phán Phạm Thị Thanh H1 là vi phạm quy định tại Điều 47, Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

- Bị đơn trong vụ án là Công ty TNHH T2. Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên của Công ty T2, đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 28/4/2010 được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố H cung cấp ngày 28/3/2023 thì người đại diện theo pháp luật của Công ty T2 là ông Phan Văn K (P), quốc tịch Australia, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú là 01 Edwin Court N. SA. Australia. Thành viên góp vốn gồm ông Nguyễn Đăng L1, ông Nguyễn Tử T, ông Phan Văn K (P) và ông Trần Cảnh H2.

Theo quy định trên thì nếu ông Phan K1 vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty, nếu như những người này không cử người đại diện thì Tòa án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật.

Như vậy, căn cứ Công văn số 1039/QLXNC-P2 ngày 04/5/2015 về trao đổi thông tin xuất nhập cảnh của Cục Q thì ông Phan K1 đã xuất cảnh ngày 15/4/2013, chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Đây là công văn xác minh thông tin xuất nhập cảnh gần nhất của ông Phan K1. Xét thấy, việc thu thập thông tin xuất nhập cảnh của ông Phan K1 lần gần nhất vào năm 2015, đến nay đã gần 10 năm nên xét thấy cần thu thập lại thông tin xuất nhập cảnh của ông Phan K1. Trường hợp ông Phan K1 hiện đang ở Việt Nam thì thu thập địa chỉ tại Việt Nam của ông Phan K1 để tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Phan K1 theo Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Trường hợp ông Phan K1 hiện vẫn chưa nhập cảnh lại Việt Nam thì căn cứ Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020:

“3. Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

5. Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này, đối với doanh nghiệp chỉ còn một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

7. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật".

Theo quy định trên thì nếu ông Phan K1 vắng mặt tại việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật thì chủ sở hữu công ty, hội đồng thành viên cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty, nếu như những người này không cử người đại diện thì Tòa án sẽ chỉ định người đại diện theo pháp luật. Như vậy, cần xác minh hiện tại Hội đồng thành viên của Công ty T2 gồm những ai, thành viên góp vốn hiện gồm những ai, có phải vẫn gồm các ông Nguyễn Đăng L1, Nguyễn Tử T, Phan Văn K (P), Trần Cảnh H2 hay không, sau đó lấy ý kiến những người này về việc cử người đại diện theo pháp luật, nếu những người này không cử được ai thì Tòa án sẽ chỉ định, sau đó tống đạt các văn bản tố tụng cho người được chỉ định này để tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa ngày 30/10/2024, hồ sơ chỉ thể hiện Thẩm phán thực hiện việc tống đạt và niêm yết cho Công ty T2, không tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng cho ông Phan K1 hay người đại diện theo pháp luật được chỉ định nào. Do đó, Thẩm phán chưa thực hiện các nội dung trên là vi phạm tố tụng và chưa đảm bảo quyền lợi cho bị đơn.

- Tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất của Công ty Cổ phần T2 (gọi tắt là Công ty T2) tại xã I, huyện L, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 260680 cấp ngày 08/4/2005 theo Hợp đồng thế chấp số T/08/19/HCM-TC 03 ngày 29/8/2008, được công chứng ngày 28/8/2008, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 29/8/2008. Xét thấy, Công ty T2 được cho thuê đất theo Quyết định số 11/QĐ-UB ngày 31/01/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh G và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ Quyết định số 189/QĐ-UBND ngày 14/11/2011 và Quyết định số 73/QĐ-UBND ngày 29/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh G thì Ủy ban nhân dân tỉnh G đã thu hồi diện tích đất cho Công ty T2 thuê, giao lại cho Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh, sau đó cho Công ty Cổ phần B (sau đổi tên thành Công ty TNHH MTV C1) thuê phần diện tích này. Công ty B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 440581 ngày 10/7/2015 đối với phần diện tích trên. Tại phiên tòa ngày 30/10/2024, Công ty T1 vẫn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của Công ty C1. Đồng thời, Công ty C1 có Công văn số 77/2024/CV-CATCN ngày 11/6/2024 trình bày hiện nay Công ty C1 đang thực hiện hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G đối với diện tích 1.958.000 m² theo giấy chứng nhận trên nhưng việc thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đã bị từ chối, trong đó có đề cập đến việc Tòa án nhân dân quận Tân Bình đang thụ lý vụ án này. Do đó, có cơ sở xác định Công ty TNHH MTV C1 có quyền lợi liên quan trong vụ án này. Tuy nhiên, Thẩm phán không đưa Công ty C1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng.

Tại phiên tòa ngày 30/10/2024, Công ty T1 giữ nguyên yêu cầu như tại Đơn đề nghị điều chỉnh, rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 27/9/2024, theo đó có yêu cầu trong trường hợp Công ty T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tải sản bảo đảm là toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại xã L, huyện I, tỉnh Gia Lai để thu hồi nợ. Ngoài ra, tại Bản xác định giá trị khối lượng hoàn thành Công ty T2 số 01/BB-XN ngày 11/4/2008 và Biên bản xác nhận khối lượng xây dựng hoàn thành số 05/BB-KT ngày 10/4/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh G thể hiện rất nhiều công trình trên đất với giá trị là 30.609.333.000 đồng. Do đó, cần làm rõ khi thu hồi đất giao lại cho Công ty C1 thì những tài sản gắn liền với đất này còn tồn tại không. Nếu còn và Công ty C1 nhận tiếp quản thì cần thẩm định xem Công ty C1 có sửa chữa, xây dựng gì thêm không. Thẩm phán không làm rõ những vấn đề trên và không tiến hành xem xét, thẩm định đối với tài sản thể chấp là chưa đảm bảo cho việc giải quyết toàn diện vụ án.

- Bản án tuyên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc trong trường hợp Công ty T2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì được yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là tài sản gắn liền với đất của Công ty Cổ phần T2 tại xã L, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 260680 cấp ngày 08/4/2005 vì cho rằng tài sản thế chấp đã bị thu hồi và giao cho Công ty B, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tài sản trên đất không thuộc quyền sử dụng của bị đơn nữa. Nội dung này không phù hợp quy định pháp luật bởi tài sản bảo đảm là tài sản gắn liền với đất của Công ty Cổ phần T2 tại xã L, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 260680 cấp ngày 08/4/2005, Ủy ban nhân dân tỉnh G có quyết định thu hồi đất và yêu cầu Công ty T2 nộp lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên nhưng không được thực hiện. Tuy nhiên, Hợp đồng thế chấp số T/08/19/HCM-TC 03 được ký ngày 29/8/2008, đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 29/8/2008 tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (Sở T) tỉnh Gia Lai, tức trước khi có quyết định thu hồi đất nên việc thế chấp là hợp pháp.

Tại Quyết định số 189/QĐ-UBND ngày 14/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh G thể hiện lý do thu hồi đất là căn cứ vào khoản 12 Điều 38 Luật Đất đai 2003 "Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép" và "Hiện trạng: Trên đất có khoảng 600m² nhà làm việc và nhà ở tập thể, số diện tích đất đã giao còn lại đang bỏ hoang". Khoản 1 Điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định:

“Điều 35. Xử lý tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất trong trường hợp thu hồi đất quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 Điều 38 của Luật Đất đai

1. Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất thành lập Hội đồng định giả để xác định phần giá trị còn lại của tiên sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất đối với trường hợp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền đầu tư trên đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; phần giá trị còn lại đó thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất".

Đồng thời, Điều 2 của Quyết định số 189/QĐ-UBND ngày 14/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh G có nội dung “Công ty Cổ phần T2 có trách nhiệm... bàn giao toàn bộ diện tích đất thu hồi tại Điều 1 Quyết định này cho Ban Q1. Mọi tài sản và vật kiến trúc trên đất, Công ty Cổ phần T2 tự tháo dỡ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký Quyết định".

Từ những quy định trên, có cơ sở xác định tài sản gắn liền với đất của Công ty Cổ phần T2 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 260680 cấp ngày 08/4/2005 (Hợp đồng thế chấp số T/08/19/HCM-TC 03 được ký ngày 29/8/2008) vẫn thuộc sở hữu của Công ty T2 khi nhà nước thu hồi đất. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là tài sản gắn liền với đất của Công ty Cổ phần T2 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên thì phát mãi những tài sản gắn liền với đất nào, diện tích như thế nào thì cần xem xét, thẩm định và làm rõ Công ty C1 khi tiếp quản có sửa chữa, xây dựng thêm gì không.

- Bản án nhận định và tuyên Công ty T1 phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng trên yêu cầu không được chấp nhận là chưa đúng quy định. Theo phân tích nêu trên thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Công ty T1 có cơ sở chấp nhận nên Công ty T1 không phải chịu án phi kinh doanh thương mại không có giá ngạch đối với yêu cầu này. Tuy nhiên giả sử Công ty T1 phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu trên thì căn cứ tiểu mục 1.2 mục II Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì án phí đối với tranh chấp kinh doanh thương mại không có giá ngạch là 3.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

  1. Kháng nghị toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 324/2024/KDTM-ST ngày 30/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình.
  2. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Quận Tân Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Bản án sơ thẩm bị nguyên đơn kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình kháng nghị. Do đó, thẩm quyền giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đối với các đương sự:

- Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng các đương sự vắng mặt không có lý do.

Căn cứ điểm b, điểm d khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

[2]. Về nội dung:

Xét kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình và kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên của Công ty TNHH T2, đăng ký thay đổi lần thứ 9 ngày 28/4/2010 được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố H cung cấp ngày 28/3/2023 thì người đại diện theo pháp luật của Công ty T2 là ông Phan Văn K (P), quốc tịch Australia, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú là 01 Edwin Court N. SA. Australia, chỗ ở hiện tại là 7 Xóm Đ, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện nay Công ty T2 chưa giải thể.

Căn cứ Công văn số 1039/QLXNC-P2 ngày 04/5/2015 về trao đổi thông tin xuất nhập cảnh của Cục Q thì ông Phan K1 đã xuất cảnh ngày 15/4/2013, chưa có thông tin nhập cảnh trở lại.

Ngày 16/11/2016, Toà án nhân dân quận Tân Bình niêm yết đối với ông Phan Văn K tại địa chỉ 7 Xóm Đ, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau đó, trong quá trình thu thập chứng cứ cho đến khi xét xử, Toà án nhân dân quận Tân Bình chưa xác minh lại đối với ông K - là đại diện theo pháp luật của Công ty T2 để đảm bảo thủ tục tống đạt, niêm yết và thu thập chứng cứ.

Ngoài ra, căn cứ vào hợp đồng thế chấp thì Công ty cổ phần T2 là bên thế chấp, tài sản thế chấp là các tài sản gắn liền với đất tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 260680 cấp ngày 08/4/2005. Biên bản niêm yết của Toà án nhân dân quận Tân Bình ghi nhận tại địa chỉ ghi trên hợp đồng thế chấp không có trụ sở của Công ty T2. Toà án cấp sơ thẩm không xác minh rõ nơi cư trú của ông K và Công ty T2 và chỉ tiến hành niêm yết đối với Công ty T2 là chưa đầy đủ.

[2.2] Căn cứ vào hợp đồng thế chấp, thể hiện Công ty T2 chỉ thế chấp các tài sản trên đất để bảo đảm cho khoản vay của Công ty T2, đất là do Ủy ban nhân dân tỉnh G cho Công ty T2 thuê. Sau khi được giao đất cho thuê, Công ty T2 không hoạt động đúng mục đích nên bị Ủy ban thu hồi đất. Khi thu hồi đất, Ủy ban có tiến hành kiểm kê tài sản trên đất, có chứng kiến của người đại diện Công ty T2. Sau khi thu hồi đất, Ủy ban tiếp tục cho Công ty B thuê lại và hiện nay là Công ty TNHH MTV C1.

Theo tài liệu Ủy ban nhân dân tỉnh G gửi cho Toà án thì vào thời điểm thu hồi trên đất có 600m2 nhà làm việc và nhà ở tập thể. Như vậy, để xác định rõ tình trạng các tài sản trên đất của Công ty T2 thì cần phải xác minh, thẩm định tại chỗ để xác định các vị trí tài sản trên đất và xác định hiện trạng các tài sản thế chấp này.

Toà án nhân dân quận Tân Bình không xác minh và cũng không thẩm định tại chỗ để xác định các tài sản trên đất hiện nay và nhận định không cần thiết thẩm định tại chỗ là chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ.

[2.3] Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ mới là biên bản thẩm định giá trị tài sản trước khi nhận thế chấp đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ về việc Hợp đồng thế chấp số T/08/19/HCM-TC 03 được ký ngày 29/8/2008, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 29/8/2008 tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (Sở T) tỉnh Gia Lai nhưng khi thu hồi bàn giao tài sản thì nguyên đơn không được thông báo để xử lý các tài sản trên đất đang được thế chấp. Việc không xử lý kịp thời các tài sản thế chấp đã gây thiệt hại cho nguyên đơn. Xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy giữa hiện trạng tài sản ghi trên Biên bản định giá và hiện trạng tài sản do Ủy ban nhân dân tỉnh G ghi nhận có sự khác nhau. Tuy nhiên, do tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn không cung cấp biên bản định giá này để Hội đồng xét xử xem xét và làm rõ đối với các tài sản bị thế chấp. Việc nguyên đơn cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới để xem xét yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp được xem là tình tiết mới phát sinh.

[3]. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Tân Bình, huỷ bản án sơ thẩm, giao về Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.

Khi giải quyết lại vụ án, Toà án cấp sơ thẩm cần lưu ý yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung đầy đủ các tài liệu bản chính theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ngoài ra, cũng cần lưu ý đối với án phí không có giá ngạch của vụ án kinh doanh thương mại.

[4]. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên không phải chịu án phí, căn cứ theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty T1.

Chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng Điều 30, Điều 38, Điều 148, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Huỷ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 324/2024/KDTM-ST ngày 30/10/2024 của Toà án nhân dân Quận Tân Bình. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận Tân Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Công ty T1 không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002854 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Đoan Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2025/KDTM-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 201/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng của công ty T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger