Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 201/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 11 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

Bà Trần Ngọc Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực

16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 215/2025/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Trọng T, sinh năm 1990 tại tỉnh Thanh Hoá; CCCD: [...]; nơi

cư trú: Đ, Phố Q, Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là phường Đ, tỉnh Thanh Hóa); giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: không; con ông Phạm Trọng K và bà Lê Thị T1, vợ là bà Nguyễn Thị H (đã ly hôn), có 1 con sinh năm 2013; tiền án: tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/01/2025 cho đến nay, có mặt.

Nguyên đơn dân sự: Tập đoàn B (V); địa chỉ: E H, phường G, Thành phố Hà Nội; Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Viết K1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh - là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 3049/GUQ-VNPT-PCTT ngày 01/4/2025). Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Võ Hữu Đ và ông Nguyễn Ngọc T2. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 12/2024, Phạm Trọng T đến thuê phòng trọ tại địa chỉ: Nhà số D, đường số D, khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống. Do chưa có việc làm, T thường đi đến Khu công nghiệp S thuộc phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) để tìm việc. Quá trình đi tìm việc làm tại Khu Công nghiệp S, T nhìn thấy trong Khu Công

nghiệp S có nhiều dây cáp đồng viễn thông nên nảy sinh ý định cắt trộm dây cáp đồng viễn thông rồi dùng dao cắt giấy gọt vỏ nhựa lấy lõi đồng bán cho vựa phế liệu để lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định trên, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2025, T đi đến 01 tiệm bán thiết bị điện và gia dụng (không nhớ địa chỉ cụ thể) mua 02 kìm cộng lực (01 kìm màu cam để cắt dây và 01 kìm màu xanh để cắt sắt) với tổng số tiền 700.000 đồng. Sau đó, T đem về phòng trọ cất giấu 02 kìm cộng lực trong bao tải để sử dụng làm công cụ phạm tội. Từ ngày 17/12/2024 đến ngày 17/01/2025, T đã nhiều lần lén lút dùng kìm cộng lực cắt trộm dây cáp đồng viễn thông trong Khu Công nghiệp S, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 16/12/2024, T lấy 02 kìm cộng lực bỏ vào bên trong bao tải treo lên baga của xe mô tô Dream (không nhớ biển số) của T. Sau đó, T điều khiển xe mô tô trên đi đến đường số C, Khu Công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi đến nơi, T cất giấu bao tải chứa hai kìm cộng lực vào bụi cây ven đường. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ. Đến khoảng 01 giờ ngày 17/12/2024, T đi bộ đến vị trí bụi cây lấy 02 kìm cộng lực, Tân trèo lên cây xanh trên vỉa hè đường số 03 rồi dùng kìm cộng lực cắt 01 đầu dây cáp đồng viễn thông loại 100p, sau đó T tiếp tục trèo lên cây xanh khác, cách đó 80 mét rồi dùng kìm cộng lực cắt đứt 01 đầu còn lại của dây cáp đồng viễn thông loại 100p. Tân cuộn tròn 80m dây cáp đồng viễn thông loại 100p vừa cắt được rồi cất giấu cùng 02 kìm cộng lực vào bụi cây gần đó. T đi bộ về phòng trọ lấy xe mô tô điều khiển đến vị trí cất giấu 02 kìm công lực và vòng dây cáp đồng viễn thông chiếm đoạt được đi về phòng trọ. Tại phòng trọ, T dùng dao cắt giấy gọt nhựa của dây cáp lấy lõi đồng bên trong. T bỏ vỏ dây cáp đồng viễn thông vào bao tải mang vứt bỏ ở khu vực đổ rác ở đường L, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; còn lõi đồng thì T bỏ vào túi nylon mang đến vựa phế liệu, địa chỉ: Số I tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho chị Nguyễn Thị Thu Ý, sinh năm 1984, HKTT: Thôn L, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã L, tỉnh Quảng Ngãi) được 1.700.000 đồng.

Vụ thứ hai: Với phương thức và thủ đoạn như trên, khoảng 01 giờ ngày 28/12/2024, T dùng kìm cộng lực cắt trộm 40m dây cáp đồng viễn thông loại 50p tại đường số C (đoạn gần Công ty T3), Khu Công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Tân gọt bỏ vỏ dây cáp lấy lõi đồng đến bán cho chị Nguyễn Thị Thu Ý được 1.350.000 đồng.

Vụ thứ ba: Với phương thức và thủ đoạn như trên, khoảng 01 giờ ngày 07/01/2025, T dùng kìm cộng lực cắt trộm 40m dây cáp đồng viễn thông loại 200p tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường số B và đường số C, Khu Công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Tân gọt bỏ vỏ nhựa lấy lõi đồng đến bán cho chị Nguyễn Thị Thu Ý được 2.200.000 đồng.

Vụ thứ tư: Với phương thức và thủ đoạn như trên, khoảng 01 giờ ngày 08/01/2025, T dùng kìm cộng lực cắt trộm 40m dây cáp đồng viễn thông loại 200p và 40m dây cáp đồng viễn thông loại 100p tại đường số B, Khu Công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Tân gọt bỏ vỏ nhựa lấy lõi đồng đến bán cho chị Nguyễn Thị Thu Ý được 2.600.000 đồng.

Vụ thứ năm: Với phương thức và thủ đoạn như trên, khoảng 01 giờ ngày 11/01/2025, T dùng kìm cộng lực cắt trộm 50m dây cáp đồng viễn thông loại 100p tại đường số B, Khu Công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, Tân gọt bỏ vỏ nhựa lấy lõi đồng đến bán cho chị Nguyễn Thị Thu Ý được 1.800.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 45 ngày 17/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương, kết luận:

  • + 80m dây cáp đồng viễn thông loại 200p trị giá 8.460.000 đồng.
  • + 170m dây cáp đồng viễn thông loại 100p trị giá 8.988.750 đồng.
  • + 40m dây cáp đồng viễn thông loại 50p trị giá 1.057.520 đồng.

Vụ thứ sáu: Ngày 17/01/2025, T nảy sinh ý định đi cắt trộm dây cáp đồng viễn thông để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng 19 giờ cùng ngày, T lấy bao tải chứa 02 cây kìm cộng lực treo 01 bên baga của xe mô tô hiệu Dream (không nhớ biển số) của T rồi điều khiển xe mô tô đi đến đường số A (đoạn trước Công ty M), Khu Công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi đến nơi, T cất giấu bao tải chứa hai kìm cộng lực vào bụi cây ven đường. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ rồi T đi bộ đến đường số A. Tại đây, T lấy 02 kìm cộng lực từ trong bụi cây sau đó trèo lên cây xanh trên vỉa hè rồi dùng 02 kìm cộng lực cắt 01 đầu dây cáp đồng viễn thông loại 200p và 01 đầu dây cáp đồng viễn thông loại 100p. T tiếp tục trèo lên cây xanh khác, cách đó 32 mét rồi dùng 02 kìm cộng lực cắt đứt 01 đầu còn lại của đầu dây cáp đồng viễn thông loại 200p và dây cáp viễn thông loại 100p. Tân cuộn tròn 32m dây cáp đồng viễn thông loại 200p trước và cất giấu vào bụi cây ven đường. Sau đó, T đi bộ về phòng trọ để lấy xe mô tô. Khi T đi về gần tới phòng trọ, T gặp đối tượng S đang đi bộ thì T rủ S cùng về phòng trọ lấy xe mô tô của T và nhờ S chở T đi đến đường số A để chở dây cáp về giùm T thì S đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe mô tô hiệu Dream của T chở T đi đến đường số A. Khi đến nơi, S ngồi trên xe mô tô, còn T nâng cuộn dây cáp đồng viễn thông loại 200p đã cuộn tròn lồng vào thân người của S rồi nhờ S chở về phòng trọ của T. Sau khi S chở cuộn cáp đi khỏi đường số 01. T ở lại cuộn tròn 32m dây cáp đồng viễn thông loại 100p. Đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 17/01/2025, T bị lực lượng Công an Đồn Khu Công nghiệp S đi tuần tra, phát hiện bắt quả tang và đưa T cùng tang vật về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, Phạm Trọng T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 06 ngày 23/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương, kết luận:

  • + 32m dây cáp đồng viễn thông loại 200p trị giá 3.384.000 đồng.
  • + 32m dây cáp đồng viễn thông loại 100p trị giá 1.692.000 đồng.

Tang vật chứng thu giữ:

  • + 32m dây cáp đồng viễn thông loại 100p.
  • + 01 kìm cộng lực màu xanh.
  • + 01 kìm cộng lực màu cam.

Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS-KV 16 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 32m dây cáp đồng viễn thông loại 100p, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho người đại diện theo uỷ quyền của Tập đoàn B là ông Nguyễn Viết K1 nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý.

- Đối với 01 kìm cộng lực màu xanh và 01 kìm cộng lực màu cam là công cụ bị cáo thực hiện tội phạm nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiêu huỷ.

Đối với với 01 mô tô nhãn hiệu Dream của Phạm Trọng T, do không rõ biển số, do đó Cơ quan điều tra không truy tìm và thu giữ được nên Kiểm sát viên không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn dân sự là ông Nguyễn Viết K1 yêu cầu bị cáo Phạm Trọng T bồi thường thiệt hại đối với tài sản không thu hồi được với số tiền là 21.890.270 đồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 21.890.270 đồng theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự. Do đó, Kiểm sát viên không đề cập xử lý.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Thành phố Hồ Chí Minh), Điều tra viên, Viện kiểm sát Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn dân sự, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/12/2024 đến ngày 17/01/2025 tại các khu vực thuộc địa bàn phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Trọng T đã nhiều lần lén lút dùng kìm cộng lực cắt trộm và chiếm đoạt các đoạn dây cáp viễn thông của Trung tâm V1, tỉnh Bình Dương thuộc tập đoàn B thì bị phát hiện bắt giữ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 23.580.270đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân: Không.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nguyên đơn dân sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho nguyên đơn dân sự. Nguyên đơn dân sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không còn yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 kìm cộng lực màu xanh và 01 kìm cộng lực màu cam là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiêu huỷ là phù hợp.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào

- Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 46, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Trọng T.

- Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự

Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Trọng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 kìm cộng lực màu xanh và 01 kìm cộng lực màu cam.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày chứng ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Trọng T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự.

4. Về quyền kháng cáo

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh;
  • - VKSND KV 16 TP Hồ Chí Minh;
  • - Phòng THA KV 16 TP Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thiệu Văn Kết Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 201/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trọng T- Trộm cắp tài sản- Khoản 1 Điều 173
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger