Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 201/2025/HS-ST

Ngày: 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

---

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hữu Tường
  2. Bà Lâm Thị Nga

- Thư ký phiên toà: ông Triệu Việt Anh Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Nụ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 237/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 821/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tấn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/7/1995; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: D7/7, Ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Lê Văn R, sinh năm: 1959 Họ và tên mẹ: Lê Thị B, sinh năm 1959; A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 30/6/2011, Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dưỡng số D, thời hạn 18 tháng. Ngày 30/11/2012, T đã chấp hành xong (BL 79).
  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2014/HSST ngày 19/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định đình chỉ phúc thẩm số 307/2014/HSPT-QĐ ngày 14/5/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên phạt Lê Tấn T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/11/2015 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 18/4/2021 đã thi hành xong nghĩa vụ án phí.
  • - Ngày 14/9/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 24/3/2018, (BL 80)
  • - Ngày 08/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định số 46/2019/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng (BL 233).
  • Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2019/HS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2020/HS-PT ngày 03/3/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên phạt Lê Tấn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 18/4/2021 đã thi hành xong nghĩa vụ án phí.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 05/12/2024 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Mộng T1; Nơi cư trú: 1 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Hữu H; Địa chỉ: F, Ấp G, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  2. Bà Cao Thị Hồng H1; Địa chỉ: F, Ấp G, xã X, hueyenj H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên Lê Tấn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, Lê Tấn T đi bộ đến cơ sở mẫu giáo H2, địa chỉ số D đường T, Khu phố C, phường T, Quận A do bà Nguyễn Thị Mộng T1 làm chủ thì phát hiện không có người trông coi nên T trèo hàng rào vào bên trong dùng lưỡi lam mang theo cạo lớp cao su và dùng dao bấm nạy phá chốt cửa rồi đi vào bên trong lấy 42.000 đồng được để trong cốp xe mô tô được mở sẵn. T đi đến khu vực kệ sách lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vario và 01 đồng hồ hiệu Seiko rồi trèo hàng rào ra bên ngoài tẩu thoát. Sau đó, T đón xe ôm công nghệ do tài xế Nguyễn Hoàng T2 phục vụ, về phòng số 3 khách sạn T7, địa chỉ F, đường Q, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T mở máy tính nhưng không lên nguồn nên T dùng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A8 của bạn gái Cao Thị Hồng H1 gọi điện cho Phạm Hữu H, là chủ cửa hàng M1, địa chỉ số F đường H, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để bán máy tính thì H đồng ý mua với số tiền 100.000 đồng. Sau đó, T nhờ H1 mang máy tính xách tay đến giao cho H. H1 mua đồ ăn hết 70.000 đồng còn lại 30.000 đồng thì H1 để trên bàn cho T. Riêng đồng hồ nhãn hiệu Seiko, T cất giấu trên bàn trong phòng khách sạn T7.

Ngoài ra, Lê Tấn T còn khai nhận vào sáng ngày 27/9/2024, Cao Thị Hồng H1 rủ T sử dụng ma túy nhưng do đang giận nhau nên T không sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, trong lúc H1 ngủ thì T đi mua ma túy về khách sạn sử dụng một mình rồi đi ngủ còn H1 sử dụng ma túy từ khi nào thì T không biết. Còn H1 khai nhận sau khi ngủ dậy, thấy có dụng cụ sử dụng ma túy còn, T thì ngủ nên H1 đã tự ý lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng. H1 không biết T sử dụng ma túy khi nào.

Ngày 28/9/2024, bà Nguyễn Thị Mộng T1 đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc.

Ngày 29/9/2024, Công an phường T, Quận A đưa Lê Tấn T về trụ sở làm việc và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để xử lý. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Lê Tấn T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu đã thu thập.

Tại Kết luận định giá tài sản số 256/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A: 01 Laptop hiệu Sony Vario trị giá 2.250.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Seiko trị giá 300.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 2.550.000 đồng (BL 26-29).

Vật chứng tạm giữ

  • - 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio, Mode: SVD123A14W, Service Tag: J5005JWJ và 01 cái đồng hồ hiệu Seiko, màu trắng bạc, dây kim loại, có số 440884. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả cho bà Nguyễn Thị Mộng T1 (BL 58; 222-223).

Tạm giữ của Lê Tấn T:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số máy 23VEG75VN00, số Imei: 357332563333695.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, số máy SM-G885S, số Imei: 356807091814713. Đây là điện thoại T mượn của H1 để liên lạc bán tài sản đã trộm cắp được.
  • + Tiền Ngân hàng N: 30.000 đồng (tiền bán máy tính).

Bà T1 giao nộp 01 USB nhãn hiệu Intel chứa dữ liệu hình ảnh T thực hiện hành vi phạm tội (lưu hồ sơ vụ án).

Ông Phạm Hữu H giao nộp 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh Cao Thị Hồng H1 bán máy tính (lưu hồ sơ vụ án).

* Đồ vật tạm giữ:

  • - 01 dao lam bằng kim loại có chữ Gillette, đã qua sử dụng;
  • - 01 cái nón lưỡi trai, màu đen; 01 quần Jeans dài; 01 áo thun ngắn tay màu đen, tay màu vàng, đã qua sử dụng, là trang phục Tùng mặc khi thực hiện hành phạm tội.

Các vật chứng và đồ vật, tài liệu được tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q theo Phiếu nhập kho vật chứng số 62/25/PNK ngày 28/02/2025.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị M đã nhận được tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại (BL 224).

Ông Phạm Hữu H không yêu cầu Lê Tấn T trả lại tiền đã mua máy tính.

Tại Bản cáo trạng số: 216/CT-VKS ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Tấn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Đề nghị xử lý theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không ảnh hưởng hoặc trở ngại đến việc giải quyết vụ án nên tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Tấn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, bản ảnh xác định hiện trạng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, tại địa chỉ số D đường T, Khu phố C, phường T, Quận A; Lê Tấn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 42.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio trị giá 2.250.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Seiko trị giá 300.000 đồng của bà Nguyễn Thị Mộng T1; Do đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Tấn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương.

Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng nhiều lần phạm tội nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy phải xử nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Cao Thị Hồng H1, không biết máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio mà T nhờ đi bán là tài sản do Lê Tấn T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý là có cơ sở.

Đối với ông Phạm Hữu H, không biết máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio mua của Lê Tấn T là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý là có cơ sở.

Đối với ông Nguyễn Hoàng T2, không biết và không tham gia cùng Lê Tấn T thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý là có cơ sở.

Đối với hành vi sử dụng ma túy, Lê Tấn T và Cao Thị Hồng H1 không sử dụng ma túy cùng nhau, T không cung cấp ma túy cho H1 để sử dụng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý Lê Tấn T và Cao Thị Hồng H1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có cơ sở.

[4] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB nhãn hiệu Intel chứa dữ liệu hình ảnh T thực hiện hành vi phạm tội (lưu hồ sơ vụ án);

Tiêu hủy: 01 dao lam bằng kim loại có chữ Gillette, đã qua sử dụng; 01 cái nón lưỡi trai, màu đen; 01 quần Jeans dài; 01 áo thun ngắn tay màu đen, tay màu vàng, đã qua sử dụng (tại phiên tòa bị cáo không có nhu cầu nhận lại quần áo và nón).

Trả lại cho bị cáo T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số máy 23VEG75VN00, số Imei: 357332563333695;

Trả lại cho bà Cao Thị Hồng H1: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, số máy SM-G885S, số Imei: 356807091814713. Đây là điện thoại T mượn của H1 để liên lạc bán tài sản đã trộm cắp được.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 30.000 đồng.

Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 70.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị M đã nhận được tài sản nên không yêu cầu bị can bồi thường thiệt hại.Ông Phạm Hữu H không yêu cầu bị cáo Lê Tấn T trả lại số tiền đã mua máy tính.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Về án phí hình sự, bị cáo Lê Tấn T3 nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Tấn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2024.

  2. Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB nhãn hiệu Intel chứa dữ liệu hình ảnh T thực hiện hành vi phạm tội (lưu hồ sơ vụ án);
    • Tiêu hủy: 01 dao lam bằng kim loại có chữ Gillette, đã qua sử dụng; 01 cái nón lưỡi trai, màu đen; 01 quần Jeans dài; 01 áo thun ngắn tay màu đen, tay màu vàng, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số máy 23VEG75VN00, số Imei: 357332563333695;
    • Trả lại cho bà Cao Thị Hồng H1: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8, số máy SM-G885S, số Imei: 356807091814713.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 30.000 đồng.
    • Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 70.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

    Theo Quyết định chuyển vật chứng số 172/QĐ-VKS, ngày 06/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Lê Tấn T4 mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA TP. HCM (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA TP. HCM (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (1b);
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 201/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tấn Tùng - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger