|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 201/2025/DS-PT Ngày: 20 - 3 - 2025 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Duyên
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 986/2024/TLPT-DS ngày 09-12-2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1125/2025/QĐPT ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mạc Thị G, sinh năm 1978; địa chỉ: số C, đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1983 hoặc ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: số B, đường C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 16/4/2021). Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Lâm Thừa T1, sinh năm 1988; địa chỉ: số A, đường số B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1962; địa chỉ: số A, đường số B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/12/2022). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Thế A, là Luật sư của Văn phòng Luật sư T5 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Dương Văn L, sinh năm 1974; địa chỉ: số C, đường Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Dương Văn L: Bà Trần Thị Quỳnh N, sinh năm 1996 hoặc bà Đoàn Ngân H2, sinh năm 1999; cùng địa chỉ: số B, đường C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 22/5/2023). Vắng mặt.
3.2. Bà Trịnh Ngân H3, sinh năm 1958; Vắng mặt.
3.3. Bà Lâm Họa M, sinh năm 1986; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số A, đường số B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Ngân H3, bà Lâm Họa M: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1962; địa chỉ: số A, đường số B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 23/11/2022). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trịnh Ngân H3, bà Lâm Họa M: Ông Lê Thế A, là Luật sư của Văn phòng Luật sư T5 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Vắng mặt.
3.4. Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1966; địa chỉ: số A, đường Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
3.5. Ông Tống Thanh V, sinh năm 1975; địa chỉ: số E, tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
3.6. Phòng Công chứng số 2 - Thành phố H; địa chỉ: số I, đường N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà H4 – Trưởng phòng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phan Thị Mai T2, sinh năm 1978; địa chỉ: số I, đường N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 01/11/2022). Vắng mặt.
3.7. Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C2), địa chỉ: số B, B, khu phố N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Minh T3 – Trưởng Văn phòng. Vắng mặt.
3.8. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; địa chỉ: tầng I, T hành chính tỉnh Bình Dương, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Đỗ Thị Hồng N1 – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/5/2023). Vắng mặt.
3.9. Văn phòng C3 (trước đây là Văn phòng C4); địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Thanh M1 – Trưởng Văn phòng. Vắng mặt.
3.10. Công ty Trách nhiệm hữu hạn C5 (tên gọi trước đây là Công ty Trách nhiệm hữu hạn C6); địa chỉ: số C, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Đại diện hợp pháp: Ông Đặng Huy D1. Có mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: số F, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.2. Ông Trương Văn M2, sinh năm 1940; địa chỉ: số C, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.3. Bà Hà Mỹ P, sinh năm 1980; địa chỉ: số C, khu phố V, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.4. Bà Nguyễn Thị Ă, sinh năm 1950; địa chỉ: số F, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.5. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ D, khu phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.6. Bà Hà Thị H5, sinh năm 1957; địa chỉ: số D, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.7. Ông Nguyễn Văn M3, sinh năm 1959; địa chỉ: số A, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
4.8. Ông Đặng Ngọc M4, sinh năm 1941; địa chỉ: số A, khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
4.9. Ông Nguyễn Văn H6, sinh năm 1964; địa chỉ: số B, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Mạc Thị G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 20.645m², thuộc các thửa đất số 14, 15, 16, 23, 25, 26, 27 và 47, tờ bản đồ B5, tại xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là các thửa đất số 14 và 203, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương) do bà Mạc Thị G nhận chuyển nhượng của các hộ dân vào năm 2000.
Ngày 27/4/2000, bà Mạc Thị G được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện T, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC đối với các thửa đất số: 14, 15, 16, 23, 25, 26, 27 và 47, tờ bản đồ B5 tại xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương. Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà G tiến hành cải tạo lại mặt bằng và cho người trông coi quản lý (đất trống, không có tài sản gắn liền với đất).
Ngày 31/8/2010, bà Mạc Thị G cùng chồng là ông Dương Văn L lập hợp đồng ủy quyền cho bà Trịnh Ngân H3 để bà H3 trông nom, quản lý thửa đất trên. Trong hợp đồng ủy quyền có nội dung bà H3 được quyền quản lý, chuyển nhượng, tặng cho,... là vì lúc đó giữa bà Trịnh Ngân H3 (tên gọi khác là Trịnh N2) và chị gái ruột của bà G là bà Mạc Thị Hồng L1 (định cư tại Mỹ) về Việt Nam có sống chung với nhau. Vợ chồng bà Mạc Thị G ủy quyền cho bà Trịnh Ngân H3 để quản lý, sử dụng là do sự tin tưởng người thân quen trong gia đình.
Ngày 14/10/2013, nhận thấy bà Trịnh Ngân H3 không còn trực tiếp quản lý, sử dụng phần diện tích đất nói trên nên, bà G ủy quyền cho ông Tống Thanh V và bà Nguyễn Ngọc D tại 02 Hợp đồng ủy quyền cùng ngày 14/10/2013 để trông coi, quản lý và mua bán phần đất đầu trong phần diện tích đất nói trên (thể hiện ý chí là bà G chỉ ủy quyền để trông coi, quản lý chứ không có mục đích mua bán, chuyển nhượng phần diện tích đất này).
Ngày 02/6/2017, chị gái ruột của bà G là bà Mạc Thị Hồng L1 mất đột ngột, mối quan hệ giữa bà L1 với bà Trịnh Ngân H3 không còn, bà H3 và gia đình bà G không còn liên lạc với nhau từ đó, bà G cũng không nhớ đến việc đã ủy quyền cho bà H3 vào năm 2010.
Ngày 30/10/2020, bà G phát hiện bị mất bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC do UBND huyện T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 27/4/2000 và ngay lập tức làm đơn xin có mất trình báo sự việc tại trụ sở Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến tháng 4/2021, bà Mạc Thị G được biết các thửa đất mà bà được UBND huyện T, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, vào số cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC ngày 27/4/2000 đã bị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một người khác trong khi bà G không hề tiến hành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho hay bất kì ai.
Để làm rõ sự việc, bà G đã xin trích lục hồ sơ địa chính tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương thì được biết ngày 23/11/2017, bà Trịnh Ngân H3 đã tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên với giá 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng cho bà Lâm Họa M (con gái ruột bà Trịnh Ngân H3). Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, bà Lâm Họa M lại lập tức làm thủ tục tặng cho toàn bộ các thửa đất trên cho ông Lâm Thừa T1 (là em trai ruột bà Lâm Họa M, con trai bà Trịnh Ngân H3).
Mặc dù bà Trịnh Ngân H3 đã có ủy quyền của vợ chồng bà G từ ngày 30/8/2010 nhưng đến ngày 23/11/2017 (sau ngày bà L1 chết ngày 02/6/2017), bà H3 mới ký hợp đồng chuyển nhượng phần diện tích đất nói trên lại cho bà L2 Họa Mi với giá rất thấp so với giá trị thực của các thửa đất. Sau đó, bà Trịnh Ngân H3 cũng không liên lạc với gia đình bà G và cũng không thông báo cho bà G được biết về việc chuyển nhượng này. Bà Trịnh Ngân H3, bà Lâm Họa M, ông Lâm Thừa T1 có mối quan hệ mẹ con, chị em ruột nên việc chuyển nhượng này là không khách quan. Đặc biệt, sau khi chuyển nhượng phần diện tích nói trên, bà Trịnh Ngân H3 cũng không giao lại tiền hay thông báo cho bà Mạc Thị G được biết. Hành vi của bà H3, bà M và ông T1 cố tình lập các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho để chiếm quyền sử dụng các thửa đất trên của bà Mạc Thị G. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngày 04/4/2022, bà Mạc Thị G đã khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết vấn đề sau:
- - Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 692758, vào sổ cấp GCN số: CS 14851 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, diện tích: 7.271,4m² và thửa đất số 203, tờ bản đồ số 6, diện tích 13.337,2m², tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà L2 Họa Mi ngày 10/7/2018, cập nhật biến động sang tên ông Lâm Thừa T1 ngày 10/8/2018.
- - Tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Họa M và ông Lâm Thừa T1 lập và công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương số công chứng 11128, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/7/2018.
- - Tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trịnh Ngân H3 và bà Lâm Họa M lập và công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương số công chứng 15769, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2017.
- - Tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng bà Mạc Thị G và bà Trịnh Ngân H3 ngày 31/8/2010 lập và công chứng tại Phòng C -Thành phố Hồ Chí Minh số 029084, quyển số 09, đóng dấu ngày 07/09/2010.
- - Công nhận quyền sử dụng đất của bà Mạc Thị G đối với các thửa đất số 14, 15, 16, 23, 25, 26, 27, 47, tờ bản đồ B5, diện tích 20.645m² (nay là thửa đất số 14 và 203, tờ bản đồ số 6), tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q689447, vào sổ cấp GCNQSDĐ số: 01471 QSDĐ/CQBC do UBND huyện T cấp ngày 27/4/2000.
Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá theo: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023; Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B lập ngày 05/4/2024 và Biên bản định giá ngày 10/7/2024.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp thuộc thửa đất số 14, có diện tích 7.271,4m² và thửa đất số 203, có diện tích 13.337,2m², tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Lâm Thừa T1 được bà Lâm Họa M tặng cho theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là bà Lâm Họa M và bên được tặng cho là ông Lâm Thừa T1 do Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương công chứng số 11128, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/7/2018. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS 14851 cấp ngày 10/7/2018 cho bà Lâm Họa M (cập nhật thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận tặng cho ông Lâm Thừa T1 ngày 10/8/2018).
Ông Lâm Thừa T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị G. Quyền sử dụng đất tranh chấp là của bà Trịnh Ngân H3 nhận chuyển nhượng, nhờ bà G đứng tên dùm, bà G không có công sức đóng góp gì. Việc bà G ký hợp đồng ủy quyền cho bà H3 nhằm giao trả đất cho bà H3 làm thủ tục. Bà H3 chuyển quyền cho bà M đúng quy định, đề nghị Tòa án giữ nguyên quyền sử dụng đất cho bị đơn.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá theo: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023; Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B lập ngày 05/4/2024 và Biên bản định giá ngày 10/7/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Văn L và người đại diện hợp pháp của ông Dương Văn L trình bày:
Phần đất tranh chấp có diện tích là 20.645m², thuộc các thửa đất số 14, 15, 16, 23, 25, 26, 27 và 47, tờ bản đồ B5, tại xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, thành phố T), được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC cho bà Mạc Thị G là tài sản riêng của bà Giàu C trước thời kỳ hôn nhân với ông Dương Văn L.
Ngày 31/8/2010, ông Dương Văn L và bà Mạc Thị G lập Hợp đồng ủy quyền cho bà Trịnh Ngân H3 để bà H3 trông nom, quản lý các thửa đất trên. Năm 2010, ông L đã kết hôn với bà G nên việc ông L tham gia ký hợp đồng ủy quyền là thực hiện thủ tục pháp lý.
Ông Dương Văn L hoàn toàn đồng ý với những lời khai, trình bày của nguyên đơn bà Mạc Thị G và không có ý kiến gì khác. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mạc Thị G để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà Mạc Thị G và ông Dương Văn L theo quy định của pháp luật.
Ông Dương Văn L và người đại diện hợp pháp thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá theo: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023; Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B lập ngày 05/4/2024 và Biên bản định giá ngày 10/7/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Ngân H3, bà Lâm Họa M và người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Ngân H3, bà Lâm Họa M trình bày:
Vào năm 2000, bà Trịnh Ngân H3 nhờ ông Đặng Ngọc M4 (với tư cách đại diện cho Công ty C6) ký hợp đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ bà Hà Thị H5, ông Nguyễn Văn M3, ông Nguyễn Văn B có tổng diện tích là 64.179m², với giá 32.000 đồng/m² tương ứng số tiền 2.053.440.000 đồng. Bà H3 đã giao trả tiền có chữ ký xác nhận của bà H5, ông M3 và ông B. Ông Đặng Ngọc M4 có lập giấy xác nhận và cam kết. Do vào năm 2000, UBND huyện T chỉ cho mỗi hộ dân đứng tên quyền sử dụng đất nông nghiệp diện tích 20.000m². Vì vậy, bà Trịnh Ngân H3 nhờ bà Mạc Thị G đứng tên dùm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 20.645m²; bà Mạc Thị S đứng tên dùm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 22.820m² và bà Trịnh Ngân H3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 20.705m². Sau khi hoàn tất các thủ tục mua bán, bà H3 đã bồi thường cho các hộ dân có mồ mả trên đất và hợp đồng trả tiền san lấp mặt bằng. Bà Mạc Thị G được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC ngày 27/4/2000.
Ngày 31/8/2010, vợ chồng bà Mạc Thị G, ông Dương Văn L đã lập hợp đồng ủy quyền cho bà Trịnh Ngân H3 để bà H3 thực hiện các quyền trông nom, coi sóc, thế chấp, chuyển nhượng hoặc tặng cho, lập thủ tục cấp đổi mục đích sử dụng,...; thời hạn ủy quyền là 20 năm.
Tháng 12/2010, bà Trịnh Ngân H3 mua căn nhà số C Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh và thấy bà Mạc Thị G mới kết hôn, khó khăn về chỗ ở nên bà H3 cho vợ chồng bà G ở nhờ căn nhà này không thu tiền thuê nhà. Việc này chứng minh năm 2000, bà G đi làm công nhân, không có tiền để mua đất, đến năm 2010 còn ở nhờ nhà bà H3.
Ngày 23/11/2017, bà Trịnh Ngân H3 với tư cách đại diện theo ủy quyền của bà Mạc Thị G và ông Dương Văn L đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L2 Họa Mi theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 15769, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương.
Ngày 17/7/2018, bà Lâm Họa M đã làm Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là bà Lâm Họa M và bên được tặng cho là ông Lâm Thừa T1 do Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương công chứng số 11128, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD. Ông Lâm Thừa T1 làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS 14851 cấp ngày 10/7/2018 cho bà Lâm Họa M (cập nhật thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận tặng cho ông Lâm Thừa T1 ngày 10/8/2018).
Người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Ngân H3 xác định quyền sử dụng đất là của bà Trịnh Ngân H3 nhờ bà Mạc Thị G đứng tên dùm. Mọi chi phí, thủ tục do bà Trịnh Ngân H3 bỏ ra, bà G không có đóng góp gì. Thời điểm mua đất, bà G còn nhỏ tuổi, làm công nhân nên không thể có số tiền lớn để nhận chuyển nhượng đất, đồng thời bà G sau khi kết hôn, không có chỗ ở phải ở nhờ nhà bà Trịnh Ngân H3. Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị G.
Người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Ngân H3, bà Lâm Họa M thống nhất kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá theo: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023; Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B lập ngày 05/4/2024 và Biên bản định giá ngày 10/7/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tống Thanh V trình bày:
Ông Tống Thanh V không có quan hệ thân thích gì với bà Mạc Thị G và bà Trịnh Ngân H3. Ông V quen biết bà Trịnh Ngân H3 do bà H3 có mở Công ty C6 gần nhà ông V. Nhà ông V đối diện với phần đất tranh chấp nên ông V có nghe ông Nguyễn Văn M3, bà Hà Thị H5 chuyển nhượng lại đất tranh chấp trong vụ án này cho bà Trịnh Ngân H3, giá khoảng 21.000 đồng/m², diện tích khoảng 6,4ha vào năm 2000 hay 2001; giao dịch cụ thể như thế nào thì ông V không biết. Sau đó, ông V nghe bà Trịnh Ngân H3, bà Mạc Thị G nói bà H3 nhờ bà G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H3 có nhờ ông V cải tạo mặt bằng hạ cốt xuống nên kêu ra ký hợp đồng ủy quyền. Ngày 14/10/2013, ông V ra Phòng C7 ký hợp đồng công chứng giữa ông V và bà Mạc Thị G do bà G đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, bà H3 (do bà G ký) ủy quyền cho ông V mua bán, vận chuyển, tận thu lớp đất đầu nằm trên các thửa đất đang tranh chấp. Đến khoảng năm 2015, ông V đã thực hiện xong việc mua bán, vận chuyển, tận thu lớp đất đầu nằm trên các thửa đất đang tranh chấp nên công việc ủy quyền đã hoàn thành, hợp đồng ủy quyền chấm dứt theo quy định. Trong quá trình thực hiện công việc được ủy quyền, ông V giao dịch trực tiếp với bà H3. Ông V xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án này và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông V trong suốt quá trình tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc D trình bày:
Từ năm 1995 đến năm 2015, bà Nguyễn Ngọc D làm kế toán cho Công ty TNHH C6 tại khu phố B, xã B, thị xã T. Bà Trịnh Ngân H3 là thành viên Công ty C6 góp vốn 49%. Năm 2000, bà Trịnh Ngân H3 có mua 64.170m² đất tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương gồm nhiều thửa, chia ra 03 người đứng tên gồm: bà Trịnh Ngân H3 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689444, diện tích 20.705m²; bà Mạc Thị G đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, diện tích 20.645m² và bà Mạc Thị S đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689443, diện tích 22.820m². Bà G và bà S là người bà Trịnh Ngân H3 nhờ đứng tên dùm.
Nguồn gốc đất: vào năm 2000, ông Đặng Minh N3 (Phó Giám đốc Công ty C6) giới thiệu cho bà Trịnh Ngân H3 gặp ông Nguyễn Văn M3, bà Hà Thị H5, ông Nguyễn Văn B để mua lô đất trên khoảng 50.000m², đo thực tế là 64.170m², giá trị thanh toán là 2.053.440.000 đồng. Ông Đặng Minh N3 thay mặt bà H3 ký hợp đồng mua bán và đặt cọc, số tiền thanh toán lần sau thì bà H5 và ông M3 vào Công ty Có nhận. Tiền do bà H3 gửi nhờ thủ quỹ Công ty C6 đếm và thanh toán dùm. Đây là tiền cá nhân bà H3, không liên quan gì đến ông Trịnh T4 hay Công ty.
Năm 2010, bà H3 thấy đất để người khác đứng tên không an toàn nên kêu bà G ra Phòng C - Thành phố Hồ Chí Minh để ký ủy quyền toàn bộ phần đất giao lại bà H3. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền, bà H3 chuyển nhượng cho con gái là L2 Họa Mi ngày 23/11/2017, sau đó bà M tặng cho lại cho ông Lâm Thừa T1 ngày 17/7/2018. Do ông T1 ở nước ngoài không tiện trông coi đất nên ủy quyền cho bà Nguyễn Ngọc D trông coi đất và làm các thủ tục pháp lý liên quan.
Bà Nguyễn Ngọc D xác định cá nhân bà D không có quyền lợi gì liên quan đến quyền sử dụng đất tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH C6 (nay là Công ty TNHH C5):
đã được Tòa án thông báo, triệu tập tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ nhưng Công ty TNHH C5 không tham gia tố tụng, không gửi văn bản ý kiến hay bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng C – Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:
Việc công chứng Hợp đồng ủy quyền số 029084, quyển số 09 ngày 31/8/2010, đóng dấu ngày 07/9/2010 giữa bên ủy quyền bà Mạc Thị G, ông Dương Văn L và bên nhận ủy quyền bà Trịnh Ngân H3 là đúng quy định của pháp luật có liên quan vào thời điểm công chứng. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C3 trình bày:
Việc công chứng Hợp đồng ủy quyền số 6059, quyển số 03TP/CC-SCC-HĐGD ngày 14/10/2013 giữa bên ủy quyền bà Mạc Thị G và bên nhận ủy quyền bà Nguyễn Ngọc D là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; tại thời điểm công chứng các bên tham gia giao kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xem xét, giải quyết vụ án theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C2 trình bày:
Văn phòng C2 – trước đây có tên là Văn phòng C1 có công chứng hai hợp đồng liên quan đến các thửa đất do ông Lâm Thừa T1 sử dụng là thửa số 14 và 203, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương gồm: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 15769, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 23/11/2017 giữa bên chuyển nhượng là bà Mạc Thị G cùng chồng là ông Dương Văn L (do bà Trịnh Ngân H3 đại diện theo Hợp đồng ủy quyền số 029084, do công chứng viên Phòng C - Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 31/8/2010) với bên nhận chuyển nhượng là bà Lâm Họa M và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số công chứng 11128, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 17/7/2018, giữa bên tặng cho là bà Lâm Họa M và bên nhận tặng cho là ông Lâm Thừa T1. Việc công chứng các hợp đồng nêu trên là đúng trình tự, thủ tục luật định.
Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt và xem xét, giải quyết vụ án và yêu cầu của các bên theo quy định pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có ý kiến:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 692758, số vào sổ cấp GCN: CS14851 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 10/7/2018 (xác nhận thay đổi chủ sử dụng ngày 10/8/2018) đúng trình tự thủ tục quy định Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ trưởng Bộ T11, Thông tư số 33/2014/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ T11, Quyết định số 22/2017/QĐ-UBND ngày 30/8/2017 của UBND tỉnh B.
Người làm chứng bà Hà Thị H5, ông Nguyễn Văn M3 thống nhất trình bày:
Vào năm 2000, bà Hà Thị H5 nghe bà Trịnh Ngân H3 (tên gọi khác là N2) có nhu cầu mua lại khu đất gò gần 5 mẫu (50.000m²) tại xã B, huyện T của hơn 10 hộ dân gần Công ty Có nên Hà Thị H5, ông Nguyễn Văn B (đã chết), ông Nguyễn Văn M3 mới nhận lời làm môi giới cho bà Trịnh Ngân H3. Việc cụ thể bà H5, ông B, ông M3 làm là đi vận động, thuyết phục hơn 10 hộ dân ở khu đất đó đồng ý bán đất của họ đang sử dụng lại cho bà H5, ông B, ông M3. Sau đó, bà H5, ông B, ông M3 bán lại cho bà Trịnh Ngân H3 để kiếm tiền chênh lệch. Việc chuyển nhượng lại cho bà Trịnh Ngân H3 thể hiện bằng Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000. Khu đất bà Mạc Thị G đứng tên đang tranh chấp trong vụ án này là một phần khu đất bà H5, ông B, ông M3 gom bán cho bà H3. Số tiền bà H5, ông B, ông M3 nhận chuyển nhượng đất của hơn 10 hộ dân do bà H5 nhận cọc từ bà H3 để trả cho người dân, toàn bộ tiền chuyển nhượng đất đều do bà H3 giao cho bà H5, ông B, ông M3 tại văn phòng Công ty C6 do bà H3 làm chủ.
Sau khi ký kết Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000, bà H5, ông B và ông M3 cùng các hộ dân giao đất cho bà H3, bà H3 đưa ai quản lý, sử dụng, đứng tên thì bà H5, ông B và ông M3 không biết. Sau này có nghe bà H3 nói là do bà H3 không thể đứng tên quá 03 mẫu đất nên nhờ người khác đứng tên dùm.
Người làm chứng ông Đặng Ngọc M4 trình bày:
Vào năm 2000, ông Đặng Ngọc M4 làm Phó giám đốc Công ty C6 do bà H3 làm chủ. Theo yêu cầu của bà Trịnh Ngân H3, ông M4 có đứng ra ký Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000 với bà Hà Thị H5, ông Nguyễn Văn M3, ông Nguyễn Văn B diện tích đất khoảng 50.000m². Việc ký hợp đồng là theo yêu cầu của bà H3, ông M4 ký với tư cách cá nhân, sau khi ký đưa cho cô thư ký của bà H3 tên là G (không nhớ họ, tên đầy đủ), sau đó cô thư ký này lấy dấu Công ty Có đóng vô thì ông M4 hoàn toàn không biết. Việc thỏa thuận mua bán đất, giá cả, mua đất của ai, diện tích cụ thể bao nhiêu thì ông M4 hoàn toàn không biết. Việc giao nhận tiền chuyển nhượng và thỏa thuận giữa bà H3 với bà H5, ông B, ông M3 như thế nào ông M4 không biết.
Ông M4 đề nghị Tòa án không đưa ông M4 tham gia tố tụng với tư cách người liên quan và xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn H6 trình bày:
Khoảng năm 2000, ông M3, bà H5 đến nhà ông H6 nói có nhu cầu mua diện tích đất 04 mẫu đất tại ấp B, trong đó có phần đất của gia đình ông H6 diện tích 2.880m². Ông H6 đồng ý chuyển nhượng cho bà H5 và ông M3. Khi đó có lập giấy tờ mua bán và giao nhận tiền rõ ràng. Tiền chuyển nhượng là do bà H5 trực tiếp trả cho ông H6 là 35.000.000 đồng, giá giao dịch là 25.000 đồng/m². Ông H6 chỉ ký giấy tờ theo yêu cầu của bà H5. Ông H6 cũng không nhớ có ra UBND xã B ký hợp đồng hay không nhưng sau khi được xem bản photo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã B chứng thực ngày 20/3/2020, ông H6 thừa nhận chữ ký, dấu lăn tay của ông H6, vợ là Trương Thị T5 và con gái Nguyễn Thúy H7. Ông H6 xác định không có ký chuyển nhượng đất cho ai khác và cũng không có bán đất cho bà G hay bà N2 (Trịnh Ngân H3).
Người làm chứng ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Khoảng năm 2000, ông M3, bà H5 đến nhà ông Q hỏi mua phần đất của gia đình ông Q diện tích 2.057m², mục đích là gom mua đất dùm Công ty. Ông Q đồng ý chuyển nhượng cho bà H5 và ông M3. Bà H5 và ông M3 có yêu cầu ông Q đến UBND xã B ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông M3 và bà H5 đưa giấy tờ cho vợ chồng ông Q ký tên, ông Q không biết bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G. Tiền chuyển nhượng là do bà H5 trực tiếp trả cho ông Q và ông Q không nhận tiền của bất kì ai khác, giá chuyển nhượng là 25.000 đồng/m². Ông Q thừa nhận chữ ký, dấu lăn tay của vợ chồng ông Q trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã B chứng thực ngày 20/3/2020. Ông Q xác định không có chuyển nhượng đất cho ai khác và cũng không có bán đất cho bà G hay bà N2 (Trịnh Ngân H3).
Người làm chứng ông Trương Văn Đ trình bày:
Khoảng năm 2000, ông M3, bà H5 đến nhà ông Trương Văn N4 (cha ông Trương Văn Đ) hỏi mua phần đất của gia đình ông N4 diện tích 2.236m², cha mẹ ông Đ đồng ý bán. Sau đó, gia đình ông Đ có đến UBND xã B ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất trên. Ông Đ xác nhận chữ ký, dấu lăn tay của cha ông Đẹp (ông Trương Văn N4), mẹ ông Đ (bà Nguyễn Thị Ă), các anh chị em ông Đ là: Trương Thị S1, Trương Văn G1, Trương Thị L3 và ông Đ trong bản photo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã B chứng thực ngày 20/3/2000 là đúng chữ ký, dấu lăn tay của ông Đ, cha mẹ ông Đ và các anh chị em ông Đ. Ông Đ không biết giá chuyển nhượng bao nhiêu, ông Đ chỉ biết ký giấy tờ theo yêu cầu của ông M3, bà H5. Ông Đ xác nhận không biết bà G1 và không nhận tiền từ bà G1. Ông Đ cũng không biết bà H3 nên không biết giữa bà H3, bà G1, bà H5 có thỏa thuận gì hay không. Ông Đ xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ă trình bày:
Khoảng năm 2000, ông M3, bà H5 có đến nhà nói với chồng bà Ă (ông Trương Văn N4) có nhu cầu mua phần đất diện tích 2.236m² của chồng bà Ă. Ông M3, bà H5 nói do ông M3, bà H5 mua và thời điểm đó một người không thể đứng tên 04 mẫu đất nông nghiệp mà chỉ đứng tên 02 mẫu nên bà Ă nghe ông M3, bà H5 nói để người khác đứng tên. Chồng bà Ă đồng ý bán phần đất trên cho ông M3, bà H5. Khi đó có lập giấy tờ mua bán và giao nhận tiền rõ ràng. Tiền chuyển nhượng do ông M3 trực tiếp trả cho chồng bà Ă. Do thời gian đã lâu bà Ă không nhớ giá chuyển nhượng là bao nhiêu. Bà Ă cũng không nhớ có ra Ủy ban nhân dân xã B ký hợp đồng hay không nhưng sau khi Thẩm phán cho bà Ă xem bản photo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã B chứng thực ngày 20/3/2000 có chữ ký, dấu lăn tay của bà Ă, chồng bà Ă (ông Trương Văn N4) và các con bà Ă là: Trương Thị S1, Trương Văn G1, Trương Thị Đ1, Trương Thị L3 bà Ă xác định là đúng chữ ký, dấu lăn tay của bà Ă, chồng bà Ă và các con bà Ă. Bà Ă chỉ biết ký giấy tờ theo yêu cầu của ông M3, bà H5. Ngoài ra, chồng bà Ă không chuyển nhượng đất cho ai khác và cũng không nghe có bán đất cho bà G1 hay bà N2 (Trịnh Ngân H3). Bà Ă cũng không nghe bà H5, ông M3 nói mua đất cho ai. Vợ chồng bà Ă nhận tiền chuyển nhượng đất từ ông M3, ngoài ra không nhận tiền từ bất cứ ai khác. Bà Ă cũng không biết bà H3 nên không biết giữa bà H3, bà G1, bà H5 có thỏa thuận gì hay không. Bà Ă không còn giữ giấy tờ gì về việc chuyển nhượng đất với ông M3, bà H5 nên không cung cấp được cho Tòa án. Bà Ăn xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Người làm chứng ông Trương Văn M2 trình bày:
Khoảng năm 2000, ông M3, bà H5 có đến nhà ông M2 nói có nhu cầu mua phần đất của ông M2 diện tích 2.458m², ông M2 đồng ý bán phần đất nêu trên cho bà H5, ông M3. Khi đó có lập giấy tờ mua bán, ông M2 với bà H5 có thỏa thuận ông M2 bán phần đất nêu trên cho bà H5 và bà Hồng Đ2 cho ông M2 phần đất khác ở khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và ông M2 còn nhận thêm một số tiền, bà H5 trực tiếp giao tiền cho ông M2. Ông M2 có ra UBND xã B ký vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực vào ngày 20/3/2000. Ông M2 thừa nhận chữ ký, dấu lăn tay của ông M2, vợ ông M2 (Phạm Thị H8), các con ông M2 là: Trương Phi N5, Trương Minh T6 là đúng chữ ký, dấu lăn tay của ông M2, vợ ông M2, các con ông M2. Do thời gian đã lâu ông M2 không nhớ giá chuyển nhượng bao nhiêu và nhận bao nhiêu tiền. Ngoài ra, ông M2 không chuyển nhượng đất cho ai khác và cũng không bán đất cho bà G1 hay bà N2 (Trịnh Ngân H3). Ông M2 cũng không nghe bà H5, ông M3 nói mua đất cho ai mà chỉ nghe ông M3, bà H5 mua đất thì ông M2 bán. Ông M2 không biết bà G1 là ai, ông M2 chỉ bán đất cho bà H5, ông M3, còn bà H5, ông M3 nhờ ai đứng tên ông M2 không biết, ông M2 ký hợp đồng theo yêu cầu của ông M3, bà H5 và nhận tiền từ bà H5, không nhận tiền từ ai khác. Ông M2 xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Người làm chứng bà Hà Mỹ P trình bày:
Khoảng năm 2000, bà H5 có đến nhà nói với cha bà P là ông Hà Văn L4 có nhu cầu mua phần đất của cha bà Phương diện T7 7.214m², ông L4 đồng ý bán. Bà P không ký giấy tờ gì liên quan đến việc chuyển nhượng phần đất trên và xác nhận chữ ký, dấu lăn tay tên Hà Mỹ P trong bản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được UBND xã B chứng thực vào ngày 20/3/2000 không phải là chữ ký, dấu lăn tay của bà P. Bà P xác nhận chữ ký của ông Hà Văn L4 (cha bà P), mẹ bà P là bà Đoàn Kim Q1, em bà P là ông Hà Hữu H9 trong bản photo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực trên là của cha, mẹ, em bà P. Bà P không biết giá chuyển nhượng là bao nhiêu, việc giao nhận tiền như thế nào, chỉ biết cha bà P đồng ý bán phần đất trên cho bà H5, sau đó bà H5 chuyển nhượng cho ai thì bà P không biết. Bà P không biết bà G1, bà H3 là ai, không biết bà H5, bà G1, bà H3 có thỏa thuận gì hay không. Bà P xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
Căn cứ các Điều: 5, 26, 34, 35, 37, 39, 147, 158, 165, 203, 227, 228, 229, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều: 119, 457, 459, 500, 501, 502, 503, 562, 563, 564, 565, 566, 567, 568 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều: 5, 166, 188, 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị G về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với bị đơn ông Lâm Thừa T1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/10/2024, nguyên đơn - bà Mạc Thị G kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo – bà Mạc Thị Giàu C người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Đương sự không cung cấp chứng cứ, tình tiết mới, giữ nguyên tất cả lời trình bày từ trước đến nay như ở giai đoạn sơ thẩm và trong nội dung đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn – ông Lâm Thừa T1 có người đại diện theo ủy quyền và trình bày:
Đương sự không cung cấp chứng cứ, tình tiết mới, giữ nguyên tất cả lời trình bày từ trước đến nay như ở giai đoạn sơ thẩm. Phía người kháng cáo không đưa ra được chứng cứ, tình tiết mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn C5 có người đại diện trình bày:
Không có ý kiến gì về nội dung vụ án và đề nghị HĐXX xét xử theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Mạc Thị G làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Tại Tòa án cấp phúc thẩm phía người kháng cáo không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bà Mạc Thị G giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Mạc Thị G làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Mạc Thị G
[3.1] Xác định đối tượng tranh chấp
Quyền sử dụng đất tranh chấp đo đạc thực tế có diện tích 20.250m², thuộc thửa đất số 14 (diện tích 7.073,4m²) và thửa đất số 203 (diện tích 13.176,6m²), tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (căn cứ Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phát hành ngày 05/4/2024), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 692758, vào sổ cấp GCN số: CS 14851 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà L2 Họa Mi ngày 10/7/2018, cập nhật biến động sang tên ông Lâm Thừa T1 ngày 10/8/2018. Phần đất hiện nay do phía ông T1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng
[3.2] Phần đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Mạc Thị G đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo các hợp đồng:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 giữa bên chuyển nhượng là ông Trương Văn M2 và bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G, chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 2.458m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 680 QSDĐ/CQBC cấp ngày 07/9/1998. Giá chuyển nhượng 10.000 đồng/m², thành tiền 24.580.000 đồng.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 giữa bên chuyển nhượng là ông Trương Văn N4 và bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G, chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 2.236m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 427 QSDĐ/CQBC cấp ngày 25/3/1998. Giá chuyển nhượng 10.000 đồng/m², thành tiền 22.360.000 đồng.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn Q và bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G, chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 2.057m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 308 QSDĐ/CQBC cấp ngày 23/01/1998. Giá chuyển nhượng 10.000 đồng/m², thành tiền 20.570.000 đồng.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 giữa bên chuyển nhượng là ông Trần Long Ẩ và bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G, chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.800m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 399 QSDĐ/CQBC cấp ngày 17/3/1998. Giá chuyển nhượng 10.000 đồng/m², thành tiền 38.000.000 đồng.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 giữa bên chuyển nhượng là ông Hà Văn L4 và bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G, chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 7.214m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01281 QSDĐ/CQBC cấp ngày 14/3/2000. Giá chuyển nhượng 10.000 đồng/m², thành tiền 72.000.000 đồng.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn H6 và bên nhận chuyển nhượng là bà Mạc Thị G, chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 2.880m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 416 QSDĐ/CQBC cấp ngày 17/3/1998. Giá chuyển nhượng 10.000 đồng/m², thành tiền 28.800.000 đồng.
[3.3] Quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quá trình thực hiện các giao dịch liên quan đến phần đất tranh chấp
Trên cơ sở các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu tại mục [3.2], ngày 27/4/2000, bà G được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện T, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC đối với các thửa đất số: 14, 15, 16, 23, 25, 26, 27 và 47, tờ bản đồ B5 tại xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương.
Ngày 31/8/2010, bà G ủy quyền cho bà Trịnh Ngân H3 theo Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền là bà Mạc Thị G, ông Dương Văn L và bên nhận ủy quyền là bà H3, được công chứng tại Phòng C - Thành phố Hồ Chí Minh số công chứng 029084, quyển số 09, đóng dấu ngày 07/9/2010.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết giữa bên chuyển nhượng là bà Mạc Thị G và ông Dương Văn L do bà H3 đại diện và người nhận chuyển nhượng là bà Lâm Họa M lập và công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương số 15769, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2017, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC đối với các thửa đất số: 14, 15, 16, 23, 25, 26, 27 và 47, tờ bản đồ B5 tại xã B, huyện T, tỉnh Bình Dương với giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng. Ngày 10/7/2018, bà Lâm Họa M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 692758, vào sổ cấp GCN số: CS 14851 đối với thửa đất số 14, diện tích: 7.271,4m² và thửa đất số 203, tờ bản đồ số 6, diện tích 13.337,2m², tọa lạc tại khu phố B, phường B, thành phố T.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Họa M và ông Lâm Thừa T1 lập và công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương số công chứng 11128, quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/7/2018. Ngày 10/8/2018, cập nhật biến động sang tên ông Lâm Thừa T1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 692758, vào sổ cấp GCN số: CS 14851 nêu trên.
[3.4] Bà Mạc Thị G yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà G và yêu cầu hủy các giao dịch gồm hợp đồng ủy quyền, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà G xác định quyền sử dụng đất tranh chấp nêu trên do bà G nhận chuyển nhượng của các hộ dân vào năm 2000, theo các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000. Đến năm 2010, bà G ủy quyền cho bà H3 quản lý dùm nhưng bà H3 lại chuyển nhượng cho con gái bà H3 là bà Lâm Họa M, sau đó bà M tặng cho em trai là Lâm Thừa T1, việc chuyển quyền của bà H3 thì bà G không biết và không đúng ý chí của bà G là chỉ ủy quyền cho bà H3 quản lý, trông nom quyền sử dụng đất. Bà G cho rằng việc hành vi của bà H3, bà M và ông T1 cố tình lập các hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho để chiếm đoạt quyền sử dụng các thửa đất trên của bà G.
[3.5] Phía ông Lâm Thừa T8 và bà Trịnh Ngân H3 cho rằng phần đất tranh chấp nêu trên là tài sản của bà H3 nhận chuyển nhượng từ các hộ dân và nhờ bà G, bà Mạc Thị S (chị gái bà G) đứng tên dùm. Do thời điểm năm 2000, pháp luật quy định cá nhân không được đứng tên cấp quyền sử dụng đất quá 02 ha, trong khi bà H3 nhận chuyển nhượng tổng diện tích 64.170m². Để đảm bảo quyền lợi của mình và phòng ngừa về sau do việc đứng tên dùm nên ngày 31/8/2010, bà H3 đã yêu cầu bà S, bà G ký hợp đồng ủy quyền cho bà H3 để bà H3 thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất. Do đó việc giao dịch chuyển quyền đối với thửa đất số 14 và thửa đất số 203 nêu trên của bà H3 là đúng quy định của pháp luật.
[3.6] Quá trình giải quyết vụ án, những người làm chứng là những người ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên hoặc thành viên các hộ gia đình ông Trương Văn M2, ông Trương Văn N4, ông Nguyễn Văn H6, ông Nguyễn Văn Q và ông Hà Văn L4 đều thống nhất xác định là có việc hộ gia đình họ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Hà Thị H5, ông Nguyễn Văn M3 và ông Nguyễn Văn B; đồng thời xác nhận chỉ nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà H5, ông M3, ông B; không biết bà H3, bà G là ai và không chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay nhận tiền của bà H3, bà G. Việc ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/2000 là ký theo yêu cầu của ông M3, bà H5.
Lời khai của những người làm chứng trên phù hợp với lời khai của người làm chứng bà Hà Thị H5 và ông Nguyễn Văn M3. Ông M3, bà H5 xác nhận ông, bà là người gom đất của các hộ dân để chuyển nhượng lại cho bà H3 và nhận tiền từ bà H3 thể hiện bằng Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000. Bà H5, ông M3 không biết bà G là ai. Sau khi ký kết Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000, bà H5, ông B và ông M3 cùng các hộ dân giao đất cho bà H3, bà H3 đưa ai quản lý, sử dụng, đứng tên thì bà H5, ông B và ông M3 không biết. Và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc D cũng xác nhận quyền sử dụng đất tranh chấp là do ông M3, bà H5 nhận chuyển nhượng của các hộ gia đình của những người làm chứng và chuyển nhượng lại cho bà H3, sau đó bà H3 nhờ bà S và bà G đứng tên dùm.
Mặt khác, lời khai của bà Hà Thị H5 và ông Nguyễn Văn M3 phù hợp với lời khai của bà Trịnh Ngân H3, ông Đặng Ngọc M4 và phù hợp với các chứng cứ gồm: Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000 (bút lục 158) và Giấy cam kết giao đất được chứng thực ngày 04/5/2000.
[3.7] Bà Trịnh Ngân H3 xác nhận bà H3 không có lập văn bản thỏa thuận với bà G, bà S về việc đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà H3 cung cấp được chứng cứ là Giấy cam kết giao đất lập ngày 04/5/2000, có xác nhận của UBND xã B ngày 04/5/2000 có nội dung: bà Hà Thị H5, ông Phan Văn M5 là đại diện bên bán đất số diện tích: 1/ Mạc Thị S diện tích 22.820m²; 2/ Trịnh Ngân H3 diện tích 20.705m²; 3/ Mạc Thị Giàu diện tích 20.645m², ở góc trái bên dưới có chữ ký, họ tên của bên mua là “Trịnh Ngân H3” (bút lục 326). Tổng diện tích là 64.170m². Mặc dù không có chữ ký xác nhận của bà G, bà S nhưng Giấy cam kết giao đất ngày 04/5/2000 đã một lần nữa khẳng định người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là bà H3. Đồng thời, Hợp đồng mua bán đất ngày 15/02/2000 thể hiện ông M5, bà H5, ông B nhận tiền chuyển nhượng đất từ bà H3.
[3.8] Bên cạnh đó, cùng ngày 27/4/2000, UBND huyện T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Mạc Thị G: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689447, số vào sổ cấp GCN: 01471 QSDĐ/CQBC với diện tích 20.645m²; cấp cho bà Mạc Thị S: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689443, số vào sổ cấp GCN: 01470 QSDĐ/CQBC với diện tích 22.820m² và cấp cho bà Trịnh Ngân H3: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 689444, số vào sổ cấp GCN: 01472 QSDĐ/CQBC với diện tích 20.705m².
[3.9] Về phía bà G thì ngoài các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà G không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà G thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với các hộ dân v nguồn gốc số tiền nhận chuyển nhượng cũng như việc trả tiền nhận chuyển nhượng đất cho các hộ dân và nguyên đơn cũng xác nhận không giao dịch gì với ông M5, bà H5 và ông B đối với đất tranh chấp. Bà G không chứng minh được việc thực tế quản lý, sử dụng đất tranh chấp. Trong khi đó, những người làm chứng đều xác định chỉ giao dịch thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhận tiền từ ông M5, bà H5 và ông B.
[3.10] Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 85/1999/NĐ CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài thì ở tỉnh Bình Dương hạn mức đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm được giao không quá 03 ha. Cho nên, lời khai của bà H3 về việc không thể đứng tên tổng diện tích đất 64.170m²là có cơ sở.
[3.11] Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở xác định bà G đứng tên bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp là chỉ thực hiện về mặt thủ tục hành chính, chủ sử dụng đất thực chất là bà H3, bà G chỉ đứng tên dùm bà H3 về mặt pháp lý. Việc bà Mạc Thị GGiàu, ông Dương Văn L ủy quyền cho bà Trịnh Ngân H3 theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 029084, quyển số 09, đóng dấu ngày 07/9/2010 nhằm mục đích giao trả quyền sử dụng đất cho bà H3. Từ đó, việc bà H3 tự nguyện thực hiện giao dịch chuyển quyền sử dụng đất cho bà L2 Họa Mi là thể hiện ý chí tự định đoạt của bà H3. Hợp đồng ủy quyền giữa bà G, ông L và bà H3 số công chứng 029084, quyển số 09, đóng dấu ngày 07/9/2010; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết giữa bà Mạc Thị G và ông Dương Văn L do bà Trịnh Ngân H3 đại diện và bà L2 Họa Mi số công chứng 15769, quyển số 04/TP/CC SCC/HĐGD ngày 23/11/2017 và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Lâm Họa M và ông Lâm Thừa T1 số công chứng 11128, quyển số 03TP/CCSCC/HĐGD ngày 17/7/2018 được ký kết phù hợp với quy định các Điều: 119, 457, 459, 500, 501, 502, 503, 562, 563, 564, 565, 566, 567, 568 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai.
[3.12] Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mạc Thị G là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Bà Mạc Thị G kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bà Mạc Thị G không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà Mạc Thị G; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của bà Mạc Thị G là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Mạc Thị G không được chấp nhận nên bà Mạc Thị G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Mạc Thị G. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mạc Thị G về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với bị đơn ông Lâm Thừa T1.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mạc Thị G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng đồng) được cấn trừ với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án dân sự phúc thẩm mà bà G đã nộp theo B1 lại số 0003507 ngày 15/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương. Bà Mạc Thị G đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Thị T9 - Phạm Thị Duyên |
Vũ Đức T10 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Vũ Đức Toàn
Nơi nhận:
- - Toà án nhân dân tối cao; (1)
- - VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)
- - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
- - TAND tỉnh Bình Dương; (1)
- - Cục THADS tỉnh Bình Dương; (1)
- - Những người tham gia tố tụng; (9)
- - Lưu VP; HSVA; ĐTM. (6) - 20
Bản án số 201/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 201/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng ủy quyền, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Mạc Thị G. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 85/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
