|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 201/2025/DS-PT Ngày: 12-3-2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Uông Văn Tuấn
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Quy
Bà Trịnh Thị Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Vũ Xuân Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Tào Minh Quân – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1069/DS-PT ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 830/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 666/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Chùa A.
Địa chỉ: Số B Ấp C xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị C – Trụ trì chùa;
Theo Quyết định số 074/QĐ.BTS ngày 19/3/2018 của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1979 (có mặt);
Địa chỉ: Số B Ấp C xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Ngô Thành P, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Số D Ấp D xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Quốc K, sinh năm 1990 (có mặt);
Địa chỉ: 1 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn L, sinh năm 1936 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số D Ấp D, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 01/02/2021, Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện và các bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa, nguyên đơn có bà Nguyễn Thị C đại diện trình bày:
Nguồn gốc diện tích 368,5m² thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại xã P, huyện B (Theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở T xác lập ngày 26/5/2022) do ông Vương Văn L1 (Trụ trì Chùa A) mua của ông Nguyễn Văn H1, bà Dương Thị Đ; bà Dương Thị B, ông Dương Văn Đ1, bà Dương Thị M, bà Dương Thị Q theo Chứng thư đoạn mãi bất động sản lập ngày 09/4/1965, có chứng thực của Chủ tịch Ủy ban hành chánh xã P.
Lúc còn sống, ông Vương Văn L1 có lập Tờ Lược giải ngày 19/4/1965 để lại phần đất này cho Chùa A để trồng rau cung cấp cho Chùa A.
Năm 1975, gia đình ông P đến sử dụng phần đất giáp ranh phần đất này. Quá trình sử dụng, ông P lấn sang đất của Chùa A.
Bà Nguyễn Thị C - Trụ trì Chùa A đã nộp đơn khiếu nại từ năm 1993 tại Ủy ban nhân dân huyện B đến nay.
Do ông P không trả đất cho Chùa A nên Chùa A yêu cầu Tòa án xem xét:
- Công nhận diện tích 368,5m² thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại xã P, huyện B thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Chùa A.
- Buộc ông Ngô Thành P trả diện tích 368,5m² thuộc thửa 96, tờ bản đồ số 38 tọa lạc tại xã P, huyện B cho Chùa A.
- Chùa A được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bị đơn ông Ngô Thành P trình bày:
Nguồn gốc diện tích 368,5m² là của bà C1 tên là Trần Thị M1 sử dụng từ trước năm 1961, năm 1968 do chiến tranh nên gia đình ông chuyển đến Quận H sinh sống, năm 1975 gia đình ông quay về tiếp tục sử dụng phần đất này.
Năm 1993, phát sinh tranh chấp Ủy ban nhân dân huyện B yêu cầu các bên cung cấp giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất nhưng bà C không cung cấp được giấy tờ nên chưa được giải quyết.
Phần đất này trước đây là ao nuôi cá, ông có san lấp ao trong nhiều năm liên tục cho đến năm 2006 thì ngừng san lấp do phát sinh tranh chấp, ông không có tài liệu chứng minh chi phí san lấp.
Nay ông không đồng ý trả đất cho Chùa A, vì phần đất tranh chấp là của ông.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn L trình bày:
Phần đất tranh chấp trước đây là thuộc thửa 528, tờ bản đồ số 4 (nay là thửa 96, tờ bản đồ số 38), xã P có nguồn gốc của Chùa A. Phần đất này trước đây ông cũng là người sử dụng và có đăng ký, kê khai.
Ông Ngô Thành P là người nơi khác đến chiếm đất dần dần và sau đó là chiếm toàn bộ phần đất trên sử dụng. Trong thời gian ông P chiếm đất, ông P luôn có hành vi khiêu khích gia đình ông như là ném đá và gây rối cho gia đình ông. Chính vì vậy, ông đã trả lại phần đất trên cho Chùa A và xây nhà nơi khác để ở.
Ông xác định phần đất tranh chấp là của Chùa A và ông không tranh chấp với Chùa A.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 830/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, quyết định:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Chùa A đối với ông Ngô Thành P.
Công nhận Chùa A (có bà Nguyễn Thị C là người đại diện theo pháp luật) được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B (Theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T xác lập ngày 26/5/2022).
Chùa A được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.
Buộc ông Ngô Thành P trả lại phần đất đang lấn chiếm là 368,5m² thuộc thửa số 96 (phần ký hiệu 96-1), tờ bản đồ số 38 tại xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Chùa A.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/10/2024, ông Ngô Thành P kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Chùa A.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Ông K đại diện cho ông P cho rằng đất tranh chấp do bà Trần Thị M1 (bà cố của ông P) sử dụng, năm 1980 bà M1 chết để lại cho ông P sử dụng đến nay. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chùa A.
- - Ông H đại diện theo ủy quyền của Chùa A đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P.
- - Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H đại diện theo ủy quyền của Chùa A và ông K đại diện cho ông P thỏa thuận thống nhất: Chùa A hỗ trợ cho ông P chi phí san lấp ao với số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn 03 đến 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chùa A là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông P. Ghi nhận sự tự nguyện của Chùa A hỗ trợ cho ông P chi phí san lấp ao với số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn 03 đến 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Lê Văn L vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét tư cách pháp nhân của Chùa A: Giấy giới thiệu số 104/TĐ/TƯ ngày 11/4/1981 của Hội P2 giới thiệu bổ nhiệm bà Nguyễn Thị C, pháp danh Thích nữ Diệu Hoa là trụ trì chùa A.
Quyết định số 074/QĐ.BTS ngày 19/3/2018 về việc hợp thức hóa trụ trì chùa A, địa chỉ: B Quốc lộ E, xã B, huyện B Thành Phố Hồ Chí Minh đối với Ni sư Thích Nữ Diệu H2 thế danh Nguyễn Thị C, sinh ngày 15/5/1959, thường trú chùa A.
Căn cứ khoản 1 Điều 30 của Luật Tôn giáo tín ngưỡng 2016 có quy định “Tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận”. Như vậy, Chùa A là cơ sở tôn giáo được Nhà nước công nhận nên có đầy đủ tư cách pháp nhân quyền và nghĩa vụ do luật quy định.
Bà Nguyễn Thị C là trụ trì chùa A theo Quyết định số 074/QĐ.BTS ngày 19/3/2018 của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Thành phố H nên căn cứ theo khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bà C đại diện cho Chùa A được quyền nộp đơn khởi kiện tranh chấp.
Theo Công văn số 259/BTS-VP của Ban T - Thành phố Hồ Chí Minh thì Chùa A cho đến thời điểm hiện nay không có sự thay đổi đương sự quản trị và là cơ sở tự V. Đối với trường hợp giải quyết tranh chấp thì Giáo hội không có ý kiến, đề nghị Toà án y cứ của nền tảng pháp luật.
[3] Về diện tích đất tranh chấp.
Căn cứ theo Bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở T lập ngày 26/5/2022 thì phần đất Chùa A khởi kiện yêu cầu ông Ngô Thành P trả có diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B. Phần đất này hiện nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2022 thì diện tích 368,5m² đang tranh chấp là đất trống, không có công trình xây dựng trên đất. Do đang tranh chấp nên không có cá nhân, tổ chức nào sử dụng.
[4] Về nguồn gốc đất tranh chấp.
Ngày 09/4/1965, ông Nguyễn Văn H1, bà Dương Thị Đ; bà Dương Thị B, ông Dương Văn Đ1, bà Dương Thị M, bà Dương Thị Q lập Chứng thư đoạn mãi bất động sản (có chứng thực của Chủ tịch Ủy ban hành chánh xã P) phần bất động sản bằng khoán số 201 tọa lạc xã P, quận B, tỉnh Gia Định (nay là xã P, huyện B) cho ông Vương Văn L1 - Trụ trì Chùa A phần đất có diện tích ba mẫu bảy mươi hai sào chín chục cao (3m72s.90c) nay là xã P, huyện B, trong đó có diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B.
Lúc còn sống, ngày 19/4/1965 ông L1 có lập tờ lược giải để lại đất cho Chùa A.
[5] Theo Công văn số 21/UBND ngày 07/01/2022 của Ủy ban nhân dân xã P: “ Vị trí khu đất:
- - Thửa 96, tờ bản đồ số 38 (tài liệu bản đồ địa chính), tương ứng với một phần thừa 351, tờ bản đồ số 04 (theo tài liệu 299/TTg), tương ứng với một phần thủa 528, một phần rạch, tờ bản đồ 04 (theo tài liệu chỉnh lý 1992). 2. Quá trình kê khai, đăng ký sử dụng:
- - Theo tài liệu 299/TTg: thửa 351, tờ bản đồ số 04, Bộ địa chính xã P ghi nhận diện tích 2.4040m², loại đất T không có tên ông Ngô Thành P, bà Nguyễn Thị C kê khai đăng ký.
- - Theo tài liệu chỉnh lý 1992: thửa 528 tờ bản đồ số 04, theo sổ mục kê ghi nhận diện tích 480m², loại đất T, có 02 người kê khai đăng ký là ông Lê Văn L diện tích 180/480m² và ông Ngô Thành P diện tích 300/480m²; một phần rạch tài liệu chỉnh lý 1992.
- - Theo tài liệu bản đồ địa chính: thửa 96 tờ bản đồ 38, Bộ địa chính xã P chủ sử dụng được ghi nhận ngoài thực địa tại thời điểm lập bản đồ là ông Ngô Thành P đăng ký, diện tích 380m², loại đất Ao.C.
- 3. Hiện nay phần đất trên do cá nhân (tổ chức) nào quản lý sử dụng:
- Hiện trạng: đất vườn, có một phần mái bạt do ông Ngô Thành P che để buôn bán nước mía. Hiện đang tranh chấp không ai quản lý sử dụng”.
[6] Năm 1993 bà Nguyễn Thị C có khiếu nại về phần đất tranh chấp và được Ủy ban nhân dân huyện B trả lời bằng Thông báo số 127/TB-UB ngày 29/3/1993, nội dung:
“2. Ủy ban nhân dân xã P thực hiện từ nay đến ngày 20/4/1993 những công việc sau:
Đề xuất phương án giải quyết theo nguyên tắc (sau khi đã nắm chắc nguồn gốc và diễn biến quá trình sử dụng đất từ trước đến nay).
Đất đã sử dụng vào công trình xây dựng công cộng như trường học, bến ghe công cộng thì không trả đất và cũng không bồi thường hoa lợi.
Đất do nhân dân đã xây dựng nhà ở từ trước năm 1975 đến nay thì không trả đất và cũng không bồi thường hoa lợi.
Đất trống còn sử dụng được thì các các chủ sử dụng phải bồi hoàn hoa lợi cho bà C theo hiện trạng và diện tích thực tế.”
[7] Theo Quyết định giải quyết khiếu nại số 135/QĐ-UB ngày 14/01/2003 của Ủy ban nhân dân huyện B khi giải quyết tranh chấp giữa ông Ngô Thành P và ông Lê Văn L thì nguồn gốc đất là của Chùa A.
[8] Phía ông Ngô Thành P cho rằng nguồn gốc phần đất tranh chấp là do ông bà của ông để lại và trong quá trình sử dụng đất ông P có tiến hành đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, căn cứ vào công văn xác minh của Ủy ban nhân dân xã P thì phần đất mà ông đăng ký kê khai có diện tích 300/480m² và sau đó gia đình ông cũng đã được cấp Giấy chứng nhận số BS 684565 số vào sổ CH04558 ngày 30/12/2013 cho ông Ngô Thành P, diện tích 203,8m² thuộc thửa 95 tờ bản đồ số 38 (tách ra từ thửa 528 tờ bản đồ số 4) toạ lạc tại xã P, huyện B.
Đây chính là phần đất mà ông P đăng ký, kê khai có diện tích 300/480m² theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã P.
[9] Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn L xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp do ông Lê Văn L đăng ký kê khai theo TL 02/1992, nhưng ông L xác nhận nguồn gốc đất là của Chùa A và đồng ý trả lại đất cho Chùa A.
[10] Bị đơn ông P cho rằng phần đất mà nguyên đơn đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông P nhưng không có tài liệu chứng minh về nguồn gốc, cũng như không thực hiện việc kê khai, đăng ký theo quy định pháp luật về đất đai.
[11] Trong khi nguyên đơn Chùa A có đầy đủ các giấy tờ về nguồn gốc đất theo quy định tại điểm 3 khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai 2013.
[12] Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm công nhận Chùa A là tổ chức tôn giáo được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B là có căn cứ.
[13] Căn cứ Điều 166, Điều 170, Điều 181 của Luật Đất đai 2013 và Điều 164 của Bộ luật Dân sự 2015, Chùa A được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp.
Căn cứ Điều 57 của Luật Tôn giáo tín ngưỡng 2016: Đất cơ sở tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo được quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai và các quy định pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông P trả cho Chùa A phần đất có diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B là có căn cứ.
[14] Chùa A được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013.
[15] Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Thanh P1.
[16] Quá trình giải quyết vụ án, ông Ngô Thành P trình bày phần đất tranh chấp trước đây là ao, ông có san lấp ao. Tuy nhiên, ông P không cung cấp tài liệu chứng minh chi tiết chi phí san lấp nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H đại diện theo ủy quyền của Chùa A và ông K đại diện cho ông P thỏa thuận thống nhất: Chùa A hỗ trợ cho ông P chi phí san lấp ao với số tiền là 150.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới, Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm: Ghi nhận sự tự nguyện của Chùa A hỗ trợ cho ông P chi phí san lấp ao với số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn 03 đến 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[17] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[18] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Ngô Thành P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 62.079.150 đồng. Tuy nhiên do ông Ngô Thành P là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho ông Ngô Thành P.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 164, Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 181 của Luật Đất đai 2013;
- - Căn cứ Điều 57 của Luật Tôn giáo tín ngưỡng 2016;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Thành P, sửa bản án sơ thẩm như sau:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Chùa A đối với ông Ngô Thành P.
- Công nhận Chùa A (có bà Nguyễn Thị C là người đại diện theo pháp luật) được quyền quản lý sử dụng phần đất diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B (Theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở T xác lập ngày 26/5/2022).
- Chùa A được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 368,5m² thuộc thửa 96 (ký hiệu 96-1 trên bảng chỉ dẫn diện tích) tờ bản đồ số 38, toạ lạc tại xã P, huyện B (Theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở T xác lập ngày 26/5/2022).
- Buộc ông Ngô Thành P trả lại diện tích 368,5m² thuộc thửa số 96 (phần ký hiệu 96-1), tờ bản đồ số 38 tại xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Chùa A.
- Ghi nhận sự tự nguyện của Chùa A hỗ trợ cho ông P chi phí san lấp ao với số tiền là 150.000.000 đồng, thời hạn 03 đến 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ông Ngô Thành P hoàn trả cho Chùa A chi phí tố tụng là 24.478.000 đồng.
- Về án phí:
Ông Ngô Thành P được miễn án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Hoàn lại Chùa A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 đồng theo biên lai thu số AA/2019/0081409 ngày 23/04/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Uông Văn Tuấn |
Bản án số 201/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 201/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Thành Phước, sửa bản án sơ thẩm
