Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 201/2024/HS-PT

Ngày: 14-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 194/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo K' Vĩnh do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: K1, sinh năm: 1996 tại: Lâm Đồng. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Mạ; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông K2, sinh năm: 1952 và con bà Ka M, sinh năm 1959; vợ: Ka T, sinh năm: 1999; con: có 01 người con sinh năm: 2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Đại hợp pháp của người bị hại có kháng cáo: Anh Thân Minh T1, sinh năm: 1998 (Con đẻ của bị hại); nơi cư trú: Hẻm D P, tổ F, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Trong vụ án còn có đại diện hợp pháp khác của bị hại nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 30-01-2021, K1 có đến tham dự đám cưới của người thân tại thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, K1 có uống khoảng 03 lon bia rồi đi đến nhà bà Ka M, sinh năm 1959 ở thôn Đ, xã L, thành phố B chơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, K1 điều khiển xe mô tô BS: 49M2-4266 về lại nhà ở thôn B, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Khi đang điều khiển xe lưu thông trên đường P theo hướng từ đường QL20 đến đường N thì K’Vĩnh nhìn thấy ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981, trú tại: số D đường P, phường L, thành phố B đang đi bộ từ bên phải qua bên trái đường theo chiều đi của K1, cách đầu xe của K1 khoảng 05 đến 10m. Lúc này, K1 đạp phanh chân và đánh lái tránh qua bên trái theo chiều đi của K1 thì thấy ông Thân Văn N, sinh năm 1968, trú tại: Tổ F, phường L, thành phố B đang đi bộ và ở ngay phía trước xe mô tô của K1. Do khoảng cách quá gần, K1 không kịp xử lý dẫn đến tay lái bên trái xe mô tô do K1 điều khiển va chạm vào người ông N. Hậu quả: ông N bị tử vong tại Bệnh viện I, còn K1 bị ngã xuống đường bất tỉnh.

Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định được như sau:

Công tác khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông được mô tả theo hướng từ đường Q đi đường N. Lấy trụ điện trước nhà số D P ngang bên trái hiện trường vụ tai nạn giao thông theo khám nghiệm làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường phải đường P theo hướng khám nghiệm làm mép đường chuẩn để đo đến các dấu vết và vị trí phương tiện. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng được trải nhựa bê tông, bằng phẳng và thẳng, rộng 9,90m, ở giữa đường có vạch sơn đứt đoạn màu vàng kẻ tim đường, phần đường bên phải theo hướng từ đường Quốc lộ 20 đi đường N rộng 4,85m. Hai bên đường tại khu vực hiện trường không có hệ thống đèn đường chiếu sáng.

  • + Vị trí vết cày xước trên mặt đường sau tai nạn có dạng đứt đoạn, chiều hướng vết xiên từ phần đường bên phải qua phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm kéo dài đến vị trí xe mô tô biển số 49M2-4266, kích thước vết cày dài 24,65m. Điểm đầu vết cày xước cách mép đường chuẩn là 4,40m, cách điểm mốc cố định là 11,65m. Điểm cuối vết cày xước cách mép đường chuẩn là 6,85m.
  • + Vị trí vết máu trên mặt đường, ở phần đường bên trái theo hướng khám nghiệm. Vết máu không rõ hình dạng, còn ướt, chảy loang xiên về phía lề đường bên trái theo hướng khám nghiệm, kích thước vết máu dài 1,47m, rộng 0,40m. Tâm điểm đầu vết máu cách mép đường chuẩn 6,10m, cách điểm đầu vết cày là 1,85m. Tâm điểm cuối vết máu cách mép đường chuẩn là 7,10m.
  • + Vị trí xe mô tô biển số 49M2-4266 dựng chân chống nghiêng ở phần đường trái theo hướng khám nghiệm sau tai nạn. Đầu xe quay xiên về phía tim đường, đuôi xe quay xiên về phía lề đường bên trái theo hướng khám nghiệm. Hình chiếu tâm đầu trục bánh trước chiếu xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 6,55m. Hình chiếu tâm đầu trục bánh sau chiếu xuống mặt đường cách mép đường chuẩn là 7,50m, cách điểm đầu vết cày là 23,75m.

- Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định: Xe mô tô biển số 49M2-4266, nhãn hiệu JARGON, màu nâu, số máy: VDGZS150FMG-JA*00002197, số khung: RNDDCGVND71*002197, dung tích xy lanh: 97cm³, ghi nhận các dấu vết sau:

  • + Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị bung khỏi vị trí ban đầu. Mặt trước ốp nhựa phía trên đèn tín hiệu phía trước bên phải bị trầy xước.
  • + Ốp nhựa đèn tín hiệu phía trước bên trái bị bể, kích thước 16cm x 06cm, điểm cao nhất cách mặt đất 99cm, thấp nhất cách mặt đất 93cm.
  • + Phía trên vị trí giao nhau giữa hai ốp phuộc nhún bánh trước bị nứt bể nhựa.
  • + Bên phải đầu dè chắn bùn bánh trước bị trầy xước sơn, mài mòn nhựa kích thước 05cm x 1,5cm.
  • + Mặt trước đầu tay phanh bên phải bị trầy xước kim loại. Mặt trước đầu tay nắm lái bên phải bị trầy xước, mài mòn kim loại, chà rách cao su.
  • + Đầu gác để chân trước bên phải bị trầy xước, mài mòn cao su. Gác để chân phía trước bên trái bị cong kim loại theo chiều hướng từ dưới lên trên.
  • + Chân đạp nổ máy xe bị xô lệch theo chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái kẹt vào ống xả.
  • + Đầu gác để chân sau bên phải bị trầy xước kim loại.
  • + Mặt ngoài tay nắm yên bên phải bị trầy xước kim loại
  • + Mặt ngoài ống xả bị trầy xước kim loại.

- Tại Bản kết luận giám định số 51/2021/TT, ngày 20 tháng 02 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh L: Kết luận nguyên nhân chết của ông Thân Văn N: Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.

- Tại Kết luận giám định số 270/GĐ-PC09, ngày 14/4/2021 của Phòng K3, Công an tỉnh L kết luận:

  • + Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 49M2-4266 với ông Thân Văn N.
  • Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe ô tô biển số 49M2-4266 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.
  • + Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 49M2-4266 lưu thông trên đường P theo chiều từ Quốc lộ B về hướng đường N.
  • + Không đủ cơ sở kết luận vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49M2-4266 với ông Thân Văn N vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố B ban hành Công văn số 90 ngày 02/02/2021 gửi Bệnh viện I về việc đề nghị phối hợp cung cấp giấy chứng nhận thương tích, sao y hồ sơ bệnh án, các kết quả xét nghiệm nồng độ cồn và tình trạng sử dụng chất ma túy của K1.

  • + Bệnh viện I trả lời kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của anh K' Vĩnh là: Ethanol: 191,47 mg/dL.

- Quá trình thực nghiệm điều tra xác định: khoảng 19 giờ K'Vĩnh điều khiển xe mô tô biển số 49M2-4266 đi trên đường P theo hướng từ đường Quốc lộ 20 đến đường N thì va chạm với ông Thân Văn N đi bộ từ phải qua trái đường theo chiều đi của K1. Hậu quả: K’Vĩnh ngã xuống đường, bị bất tỉnh còn ông N bị tử vong.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu đỏ đen, BS; 49M2-4266 cho cho sở hữu hợp pháp là K’Vĩnh.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc K’Vĩnh đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Thân Văn Ninh số tiền 80.000.000 đồng. Anh Thân Minh T1 là đại diện gia đình nạn nhân Thân Văn Ninh đã có đơn xin bãi nại cho K1 và cam kết không thắc mắc khiếu nại gì về sau.

Tại Cáo trạng số: 109/CT-VKSBL ngày 17-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo K1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 21-8-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc đã tuyên bố: bị cáo bị cáo K1 phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo K1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23-8-2024 bị cáo K1 và đại diện hợp pháp của bị hại là anh Thân Minh T1 cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K' Vĩnh giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K' Vĩnh giữ nguyên kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, khi vi phạm giao thông đường bộ lỗi hoàn toàn của bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh hiện nay, bị cáo đang có con nhỏ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.

[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo ông Thân Minh T1 (Con đẻ của bị hại) đã được triệu tập nhưng vắng mặt và xin vắng mặt; xét việc vắng mặt của ông Thân Minh T1 không gây trở ngại cho việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[4] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai người liên quan; kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 30-01-2021, sau khi uống bia bị cáo K1 đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49M2-4266 lưu thông trên đường P theo hướng từ đường Q đến đường N thì K1 nhìn thấy ông Nguyễn Văn Đ đang đi bộ từ bên phải qua bên trái đường theo chiều đi của K1, cách đầu xe của K1 khoảng 05 đến 10m. Lúc này, K1 đạp phanh chân và đánh lái tránh qua bên trái theo chiều đi của K1 thì thấy ông Thân Văn N đang đi bộ và ở ngay phía trước xe mô tô của K1. Do khoảng cách quá gần, K1 không kịp xử lý dẫn đến tay lái bên trái xe mô tô do K1 điều khiển va chạm vào người ông N. Hậu quả: ông N bị tử vong tại Bệnh viện I, còn K1 bị ngã xuống đường bất tỉnh.

Qúa trình điều tra xác định được bị cáo không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định; theo phiếu trả lời kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của anh K' Vĩnh là: Ethanol: 191,47 mg/dL. Tại Bản kết luận giám định số 51/2021/TT, ngày 20 tháng 02 năm 2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh L: Kết luận nguyên nhân chết của ông Thân Văn N: Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông. Hành vi nêu trên của bị cáo K1 đã vi phạm khoản 8, khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ.

Xét thấy, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tham gia giao thông phải có giấy phép lái xe, phải tuân thủ các quy tắc tham gia thông đường bộ nhưng vẫn điều khiển xe vi phạm quy tắc giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả ông Thân Văn N tử vong. Do đó, cấp sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại tại các điểm a, b khoản 2 của Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.

[5] Về hình phạt và kháng cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người tham gia giao thông. Cấp sơ thẩm sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ gồm: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả, được đại điện hợp pháp của bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đầy đủ và đúng quy định.

Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, trong khi đó mức án 36 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt. Khi vi phạm giao thông, lỗi phần lớn thuộc về bị cáo, trong khi bị cáo bị áp dụng 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, vì vậy việc xem xét áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là không đảm bảo; việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài cộng đồng sẽ tạo tiền lệ xấu, ảnh hưởng đến dư luận và không nghiêm đối với công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này tại địa phương. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị hại, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K' V và đại diện hợp pháp của bị hại là anh Thân Minh T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo K' Vĩnh phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo bị cáo K' Vĩnh 36 (Ba mươi sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo K' Vĩnh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại là anh Thân Minh T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND thành phố Bảo Lộc (02);
  • - VKSND thành phố Bảo Lộc (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA thành phố Bảo Lộc (01);
  • - Cơ quan THAHS thành phố Bảo Lộc (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Đại diện hợp pháp của b ị hại (01);
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01)
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 201/2024/HS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 201/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger