Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH B G

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2024/HS-PT

Ngày: 30/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B G

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Bà Phạm Thị Minh Hiền.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B G.

Đại diện VKSND tỉnh B G tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng- Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B G xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 223/2024/TLPT-HS ngày 09/9/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C và Nguyễn Thị Q, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện L N, tỉnh B G, thep Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2024/QĐ-PT ngày 12/9/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 233/2024/TB-TA ngày 24/9/2024.

- Các Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Bá T, sinh năm 1982 tại huyện L N, tỉnh B G; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh, trú quán: thôn Lai Cách, xã Thạnh Hải, huyện L N, B G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; đảng, đoàn thể: không; bố đẻ: Nguyễn Bá Bình sinh năm 1955 (Đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1960; vợ: Lý Thị Sáu, sinh năm 1988; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2018;

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến ngày 19/4/2024, được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa P. (Có mặt tại phiên tòa)

  2. Họ và tên: Lành Ngọc A, sinh năm 1983; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh quán: xã Lợi Bắc, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú: thôn Hiệp Sơn, xã Biên Sơn, huyện L N, tỉnh B G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; Đảng, đoàn thể: không; bố đẻ: Lành Văn Đinh, sinh năm 1957 (đã chết); mẹ đẻ: Vi Thị Sinh, sinh năm 1957; chồng: Dương Bá Trung, sinh năm 1982; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến ngày 19/4/2024, được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa P. (Có mặt tại phiên tòa)

  3. Họ và tên: Ngọc Văn C, sinh năm 1982; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh, trú quán: thôn Sản, xã Hữu Sản, huyện S Đ, tỉnh B G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; đảng, đoàn thể: không; bố đẻ: Ngọc Văn Hiên sinh năm 1933(đã chết); mẹ đẻ: Trần Thị Ba, sinh năm 1940; vợ: Nịnh Thị Kim sinh năm 1983; con: có 02 con; con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến ngày 19/4/2024, được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa P. (Có mặt tại phiên tòa)

  4. Họ và tên: Nguyễn Thị C, sinh năm 1982; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh, trú quán: thôn Lai Cách, xã Thanh Hải, huyện L N, tỉnh B G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; đảng, đoàn thể: không; bố đẻ: Nguyễn Ngọc Thắng, sinh năm 1954 (đã chết); mẹ đẻ: Hà Thị Giang, sinh năm 1959 (đã chết); chồng: chưa có; con: có 01 con, sinh năm 2009

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến ngày 19/4/2024, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa P. (Có mặt tại phiên tòa)

  5. Họ và tên: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1971; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh, trú quán: thôn Trong, xã Hồng Giang, huyện L N, B G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; đảng, đoàn thể: Không; bố đẻ: Nguyễn Văn Cò (đã chết); mẹ đẻ: Trịnh Thị Dậu (đã chết); chồng: Nguyễn Văn Cến sinh năm 1968 (đã chết); con: có 02 con; con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1994; anh, chị em ruột: có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba.

    Nhân thân:

    • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2015/HS-ST ngày 14/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện L N xử phạt Nguyễn Thị Q 03 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 4.190.000 đồng và 20.000 đồng của Nguyễn Thị Q, trả lại cho Q số tiền 510.000 đồng, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 14/7/2015 Q đã chấp hành xong án phí, phạt tiền, truy thu.
    • + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2016/HS-ST ngày 31/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện L N, tỉnh B G xử phạt Nguyễn Thị Q 27 tháng tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng, truy thu số tiền 100.000 đồng, phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 13/4/2017 Q chấp hành xong án phí, truy thu, tiền phạt; ngày 05/6/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
    • Tiền án: có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện L N, tỉnh B G xử phạt Nguyễn Thị Q 09 tháng tù về tội Đánh bạc thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2021. Phạt tiền bổ sung 15.000.000 đồng, trả lại cho Q số tiền 6.000.000đồng, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 29/7/2022 Q chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích.

    Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B G. (Có mặt tại phiên tòa)

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 12/4/2024 Cam Văn P đang ở nhà thì có Nguyễn Bá T đến chơi, tiếp đó có Lành Ngọc A điều khiển xe mô tô kèm Nguyễn Thị Q đến nhà P mua quần áo. Tại đây, Ngọc A và T rủ nhau đánh bạc tại nhà P. P đồng ý và bảo mọi người lên tầng 2 của nhà P đánh bạc. Khi Ngọc A, T, Q đi lên phòng trên tầng 2 thì P mang lên 02 bộ bài tú lơ khơ và trải Cếc chăn bằng vải có in họa tiết, hoa văn xuống nền nhà để mọi người ngồi đánh bạc. Trước khi đánh bạc Lành Ngọc A gọi điện thoại cho chị Báo Thị Trường rủ đến nhà P đánh bạc nhưng chị Trường không đánh bạc. Lúc này Ngọc Văn C đang ở cạnh chị Trường nên biết được việc Ngọc A gọi chị Trường rủ đi đánh bạc nên C đã điều khiển xe ô tô đến nhà P để đánh bạc. Tiếp đó có Nguyễn Thị C đến nhà P tham gia đánh bạc cùng mọi người. Trước khi đánh bạc Ngọc A, T, Q, P, С mỗi người bỏ ra số tiền 100.000 đồng để dưới Cếu cạnh vị trí của C và Q, mục đích để cho chủ nhà. Cả nhóm thống nhất trong quá trình đánh bạc có ai xin sâm thì sẽ bỏ ra một số tiền tùy ý trả cho chủ nhà để trả tiền nước. Các đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh “Lốc” được thua bằng tiền cụ thể như sau: Sử dụng bộ tài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K đủ 4 chất rô cơ bích tép. Khi bắt đầu đánh bạc (ván đầu tiên) người Ca bài ngửa một quân bất kỳ lên rồi tráo bài, tráo bài xong sẽ Ca cho mỗi người 10 quân bài ngẫu nhiên, lá bài ngửa thuộc về ai thì người đó sẽ được đánh trước (từ ván sau thì người thắng ván trước là người Ca bài và được đánh trước). Khi Ca và đánh bài đều theo thứ tự từ lần lượt trái qua phải (ngược Cều kim đồng hồ). Sau khi Ca bài xong, người chơi cùng lên bài và tính như sau: Đôi là 02 quân bài cùng số với nhau, ví dụ: đôi A-A, 2-2,... K-K. Quy ước thứ tự các đôi từ bé đến to là đôi 3-3<4-4< ... <K-K<A-A<2-2; Bộ ba: Bộ ba quân bài có cùng số với nhau ví dụ: A-A-A. Quy ước thứ tự bộ ba từ bé đến to là 3-3-3 <4-4-4<...<K-K-K<A-A-A<2-2-2; Tứ quý: Bộ bốn quân có cùng số với nhau, ví dụ A-A-A-A. Quy ước thứ tự tứ quý từ bé đến to là 3-3-3-3 < 4-4-4-4<...<K-K-K-K<A-A-A-A<2-2-2-2; Dây: Tập hợp các quân bài có giá trị liên tiếp, ít nhất là ba quân trở lên, ví dụ dây A-2-3. Quy ước dây bắt đầu bằng quân A là nhỏ nhất, dây kết thúc bằng quân A là to nhất, ví dụ: dây ba quân thì dây A-2-3 nhỏ nhất, dây Q-K-A là to nhất. Không được ghép dây K-A-2. Bài lẻ là bài không thuộc một trong 4 trường hợp trên. Quy ước thứ tự quân lẻ từ nhỏ đến to là 3<4<5<6<7<8<9<10<J<Q<K<A<2. Các trường hợp thắng trắng (không cần đánh) gọi là “sâm” (lốc) theo thứ tự thắng như sau: Sâm rồng (là trường hợp có một dây 10 quân liên tiếp nhau) > Tứ quý 2 (2-2-2-2) > Bài có 05 đôi > Tất cả 10 quân bài cùng màu (đỏ hoặc đen). Khi người chơi lên bài nếu thuộc một trong 04 trường hợp này thì sẽ hạ bài và thắng luôn không cần đến lượt đánh. Những người chơi còn lại phải trả cho người thắng trắng 100.000đồng/người. Hoặc người chơi có thể xin “sâm” (báo sâm) nếu khi lên bài mà người chơi cảm thấy bài mình có thể đánh một lượt mà không ai có thể chặn ngang được thì có thể hô “xin sâm”. Việc xin sâm phải theo thứ tự lần lượt từ người Ca bài rồi mới đến người kế tiếp theo vòng Ca. Nếu người xin sâm đánh được T bộ bài của mình mà không bị ai chặn thì mỗi người còn lại phải đưa cho người xin sâm 100.000đồng. Nếu người xin sâm bị người khác chặn thì người xin sâm phải đưa cho người chặn được 500.000đồng. Người chặn được người xin sâm sẽ được Ca và đánh trước ván tiếp theo. Nếu không có ai “thắng trắng” hoặc “xin sâm”. Thì người được đánh trước sẽ căn cứ vào bài của mình để có cách đánh phù hợp, có thể đánh lẻ từng quân, đánh đôi, bộ ba, tứ quý hoặc dây. Khi đánh thì quân lẻ to chặn được quân lẻ bé hơn, đôi to chặn đôi bé hơn hơn, bộ ba to chặn được bộ ba bé hơn, tứ quý to chặn được tứ quý bé hơn, dây to chặn được dây bé hơn (không phân biệt chất rô, cơ, bịch, tép). Ngoại lệ, tứ quý có thể chặn được 2 nhưng không chặn được quân lẻ khác. Nếu ai bị chặn 2 bằng tứ quý thì người bị chặn phải trả cho người chặn 100.000đồng. Ai là người chặn cuối cùng hoặc đánh mà không bị ai chặn thì tiếp tục được đánh vòng mới. Người nào đánh hết bài đầu tiền thì sẽ thắng. Những người còn lại phải trả cho người thắng số tiền 5.000đồng/01 quân bài còn lại của mình. Do các đối tượng không có tiền 5.000đồng lẻ nên có quy ước là có thể cộng hoặc trừ đi 01 quân để nhân với số tiền cần tiền. ví dụ người thua còn 05 lá có thể trả 20.000đồng hoặc 30.000đồng. Quá trình các đối tượng nêu trên đánh bạc thì có Nguyễn Ngọc Thành, sinh năm 1982, trú tại thôn Lai Cách, xã Thanh Hải, huyện L N kèm Nguyễn Quang Trung sinh năm 1972 trú tại thôn Kép 1, xã Hồng Giang, huyện L N, tỉnh B G đến nhà P chơi. Tại đây, Trung, Thành biết trên tầng 2 nhà P có đánh bạc nên đã đi lên và ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc sát phạt nhau đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an huyện L N phát hiện bắt quả tang.

Thu giữ tại Cếu bạc số tiền 5.740.000 đồng (trong đó số tiền 5.040.000 đồng là tiền đánh bạc, số tiền 700.000 đồng là do những người đánh bạc góp lại để đưa cho P), 02 bộ bài tủ lơ khơ (một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ), mỗi bộ có 52 (năm mươi hai) quân bài từ A đến K đủ các chất rô, cơ, tép, bích; 01 (một) Cếc chăn có in họa tiết, hoa văn. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Thị C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone loại 12 Pro Max màu vàng, số tiền 9.610.000đồng; của Ngọc Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Renos T5G màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung galaxy A8 màu xanh, 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda BT 50 biển kiểm soát 98C-261.37; của Lành Ngọc A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, số tiền 5.210.000 đồng; của Nguyễn Thị Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2F màu đen máy cũ, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave biển kiểm soát 98E1-622.25; của Nguyễn Bá T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, số tiền 13.200.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode biển kiểm soát 98E1-709.49; của Nguyễn Ngọc Thành 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Air Blade biển kiểm soát 98E1-744.25, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J7 Pro màu đen; của Nguyễn Văn Chung 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen; của Báo Thị Trường 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, số tiền 14.450.000 đồng.

Ngày 13/4/2024 Cơ quan C sát điều tra Công an huyện L N đã ra quyết định trả tự do đối với Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Ngọc Thành và Báo Thị Trường do những người này không tham gia đánh bạc.

Ngày 19/4/2024 Cam Văn P đến Công an huyện L N đầu thú khai nhận về hành vi để cho các đối tượng đánh bạc tại nơi ở của mình.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận số tiền mang theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

  • Nguyễn Thị Q khai Q sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang Q đã thua hết số tiền trên.
  • Nguyễn Bá T khai: Trước khi đánh bạc T có số tiền 14.700.000 đồng, khi tham gia đánh bạc T bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang, T đang hòa tiền. Số tiền còn lại 13.200.000 đồng T cất trong túi quần, không sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi phát hiện thấy công an đến T đã lấy số tiền trên ra và ném số tiền vào góc nhà.
  • Lành Ngọc A khai: Trước khi đánh bạc Ngọc A có số tiền 5.910.000 đồng, khi tham gia đánh bạc Ngọc A bỏ ra số tiền 700.000 đồng sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi bị bắt quả tang Ngọc A đã thua hết số tiền trên. Số tiền 5.210.000 đồng Ngọc A để ở túi quần bên phải phía trước, không sử dụng vào mục đích đánh bạc và đã giao nộp khi bị bắt quả tang.
  • Ngọc Văn C khai: Trước khi đánh bạc C có số tiền 900.000 đồng và sử dụng T bộ số tiền này vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc đến khi công an bắt quả tang C thua hết số tiền trên.
  • Nguyễn Thị C khai: Trước khi tham gia đánh bạc C có 10.110.000 đồng, C bỏ ra số tiền 500.000 đồng sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc C bị thua khoảng 200.000 đồng - 300.000 đồng, số tiền đánh bạc còn lại C để dưới Cếu bạc. Đối với số tiền 9.610.000 đồng C cất ở trong túi quần, không sử dụng vào mục đích đánh bạc và đã giao nộp khi bị bắt quả tang.
  • Cam Văn P khai: P là người mang bài tú lơ khơ, trải chăn xuống nền nhà để cho các đối tượng đánh bạc tại nơi ở của mình.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ.

Tại bản cáo trạng số: 93/ CT-VKS ngày 28 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện L N đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C và Cam Văn P về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện L N, tỉnh B G đã xét xử và quyết định:

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bá T.

    Xử phạt: Nguyễn Bá T 10 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến 19/4/2024.

  2. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lành Ngọc A.

    Xử phạt: Lành Ngọc A 09 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến 19/4/2024.

  3. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Q.

    Xử phạt: Nguyễn Thị Q 09 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2024.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngọc Văn C.

    Xử phạt: Ngọc Văn C 09 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến 19/4/2024.

  5. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị C.

    Xử phạt: Nguyễn Thị C 08 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến 19/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bá T 15.000.000đồng, phạt bổ sung đối với các bị cáo Lành Ngọc A, Nguyễn Thị Nguyễn Thị Q mỗi bị cáo 10.000.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với 01 bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong:

  • - Ngày 01/8/2024 bị cáo Nguyễn Bá T có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • - Ngày 01/8/2024 bị cáo Lành Ngọc A có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • - Ngày 01/8/2024 bị cáo Ngọc Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • - Ngày 01/8/2024 bị cáo Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • - Ngày 05/8/2024 bị cáo Nguyễn Thị Q có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo trình bày:

  • - Bị cáo Q trình bày: Bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức hình phạt không nặng, bị cáo xin được rút T bộ kháng cáo. Việc xin rút kháng cáo của bị cáo là hoàn T tự nguyện.
  • - Bị cáo T trình bày: Bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo chỉ xin hưởng án treo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, phạm tội lần đầu, bị cáo đã nộp số tiền 1.000.000đồng ủng hộ đồng bào bão lụt trong cơn bão số 3, trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp số tiền 10.200.000đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
  • - Bị cáo Ngọc A trình bày: Bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin rút kháng cáo xin giảm hình phạt, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo xin hưởng án treo để nuôi con nhỏ, bị cáo đã nộp số tiền 2.000.000đồng tiền phạt của bản án sơ thẩm, số tiền còn lại do hoàn C khó khăn bị cáo xin được nộp dần, bị cáo đã ủng hộ cho Uỷ ban nhân dân xã Biên Sơn vào quỹ phòng chống bão lụt số tiền 500.000đồng.
  • - Bị cáo C trình bày: Bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin rút yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt, chỉ xin hưởng án treo. Do bị cáo không hiểu biết pháp luật, bị cáo đã nộp số tiền 1.000.000đồng đóng góp cho Mặt trận tổ quốc xã Hữu Sản ủng hộ nhân dân bị bão lụt, bị cáo xin hưởng án treo để ở nhà lao động chăm sóc gia đình. Bị cáo đã nộp số tiền 10.200.000đồng trước khi xét xử sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
  • - Bị cáo C trình bày: Bị cáo thấy án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ xin hưởng án treo. Gia đình bị cáo chỉ có một mẹ một con, bị cáo xin được hưởng án treo để ở nhà trông nom, chăm sóc cho con, bị cáo đã ủng hộ đồng bào bão lụt 1.000.000đồng, bị cáo đã nộp số tiền 10.200.000đồng trước khi xét xử sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B G thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà các bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX:

  • - Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Q đã rút T bộ kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Q.
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C, sửa bản án sơ thẩm:
  1. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bá T.

    Xử phạt: Nguyễn Bá T 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

  2. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lành Ngọc A.

    Xử phạt: Lành Ngọc A 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngọc Văn C.

    Xử phạt: Ngọc Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

  4. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị C.

    Xử phạt: Nguyễn Thị C 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Bá T cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Hải, huyện L N, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lành Ngọc A cho Uỷ ban nhân dân xã Biên Sơn, huyện L N, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Ngọc Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã Hữu Sản, huyện S Đ, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyên Thị C cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Hải, huyện L N, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bá T 15.000.000đồng, phạt bổ sung đối với các bị cáo Lành Ngọc A, Nguyễn Thị Nguyễn Thị Q mỗi bị cáo 10.000.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo Nguyễn Bá T nói lời sau cùng: đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Lành Ngọc A nói lời sau cùng: đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Ngọc Văn C nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thị C nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
  2. [2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: vụ án còn có bị cáo Cam Văn P; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
  3. [3]. Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy đủ cơ sở xác định:

    Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 12/4/2024, tại gian phòng trên tầng 2 của gia đình Cam Văn P ở thôn Giáp Hạ, xã Thanh Hải, huyện L N, tỉnh B G, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “lốc” được thua bằng tiền thì bị tổ công tác của Công an huyện L N phát hiện bắt quả tang, thu giữ T bộ tiền, công cụ, P tiện các đối tượng sử dụng đánh bạc. Cam Văn P là chủ nhà không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng P đã chuẩn bị công cụ để cho các đối tượng đánh bạc tại nơi ở của mình. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 5.740.000 đồng.

    Hành vi của của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

    Bản án sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi của các bị cáo, đánh giá T bộ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”, Lành Ngọc A 09 (Chín) tháng tù về tội “ đánh bạc”, Ngọc Văn C 09 (Chín) tháng tù về tội “ đánh bạc”, Nguyễn Thị C 08 (Tám) tháng tù về tội “ đánh bạc” và Nguyễn Thị Q 09 (Chín) tháng tù về tội “đánh bạc” là hoàn T tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

  4. [4] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Q và kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo thì thấy:
    1. [4.1]. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Q đã rút T bộ kháng cáo, việc xin rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn T tự nguyện, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Q.
    2. [4.2]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: các bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự liên kết, phân công chặt chẽ. Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo là tệ nạn xã hội gây dư luận xấu, gây mất trật tự trị an ở địa P tạo tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
    3. [4.3]. Xét vai trò của các bị cáo:

      Bị cáo Nguyễn Bá T tham gia chơi với số tiền lớn nhất (1.500.000đồng) trong số các bị cáo nên bị cáo có vai trò cao nhất, cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn mức khởi điểm, cao hơn so với các bị cáo khác mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

      Bị cáo Lành Ngọc A tham gia đánh bạc với số tiền ít hơn so với bị cáo T, nhưng bị cáo đã điện thoại rủ người đến chơi bạc, bị cáo Ngọc Văn C tham gia đánh bạc với số tiền lớn thứ 2 sau T nên xác định các bị cáo có vai trò thứ hai trong vụ án.

      Bị cáo Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C đánh bạc với số tiền ít hơn bị cáo T, Anh, C nên bị cáo có vai trò thấp hơn trong vụ án.

    4. [4.4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
      • * Đối với bị cáo Nguyễn Bá T:
        • - Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt.
        • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
        • - Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện nộp tiền án phí, tiền phạt bổ sung nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
      • * Đối với bị cáo Lành Ngọc A:
        • - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
        • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
        • Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
      • * Đối với bị cáo Ngọc Văn C:
        • - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
        • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
        • - Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
      • * Đối với bị cáo Nguyễn Thị C:
        • - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
        • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
        • - Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện nộp tiền án phí, tiền phạt bổ sung, có bà là mẹ Việt Nam anh hùng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Tại cấp phúc thẩm:

    • - Bị cáo Nguyễn Bá T cung cấp tài liệu, chứng cứ mới về việc bị cáo nộp tiền ủng hộ bão lụt 1 triệu đồng, bị cáo tự nguyện nộp số tiền 10.200.000đồng trước khi xét xử sơ thẩm.
    • - Bị cáo Lành Ngọc A: Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 2 triệu đồng là tiền phạt bổ sung của bản án sơ thẩm, bị cáo ủng hộ nhân dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 3 số tiền 500.000 đồng, đã nộp tiền phạt bổ sung trước khi xét xử sơ thẩm.
    • - Bị cáo Ngọc Văn C: bị cáo đã nộp số tiền 1.000.000đồng đóng góp cho Mặt trận tổ quốc xã Hữu Sản ủng hộ nhân dân bị bão lụt, đã nộp tiền phạt bổ sung trước khi xét xử sơ thẩm.
    • - Bị cáo Nguyễn Thị C: bị cáo đã nộp tiền ủng hộ cho quỹ phòng chống bão lụt số tiền 1.000.000đồng, đã nộp tiền phạt bổ sung trước khi xét xử sơ thẩm.

    Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho các bị cáo.

    Xét tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo T, Anh, C, C có tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thấm, các bị cáo đồng phạm giản đơn, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, số tiền đánh bạc không lớn, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét, thấy các bị cáo đủ điêu kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa P cũng đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

    Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C và Nguyễn Thị C, sửa bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân huyện L N.

  5. [5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

    Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  6. [6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Q.

    - Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C, sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện L N, xử:

  2. Về hình phạt, tội danh và điều luật:
    1. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bá T.

      Xử phạt: Nguyễn Bá T 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Bá T cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Hải, huyện L N, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    2. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lành Ngọc A.

      Xử phạt: Lành Ngọc A 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

      Giao bị cáo Lành Ngọc A cho Uỷ ban nhân dân xã Biên Sơn, huyện L N, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngọc Văn C.

      Xử phạt: Ngọc Văn C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

      Giao bị cáo Ngọc Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã Hữu Sản, huyện S Đ, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    4. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị C.

      Xử phạt: Nguyễn Thị C 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Thị C cho Uỷ ban nhân dân xã Thanh Hải, huyện L N, tỉnh B G giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  3. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về hình phạt bổ sung:
    • - Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bá T 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).
    • - Phạt bổ sung đối với các bị cáo Lành Ngọc A, Nguyễn Thị Nguyễn Thị Q mỗi bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

    Các bị cáo Nguyễn Bá T, Lành Ngọc A, Ngọc Văn C, Nguyễn Thị C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B G;
  • - Sở tư pháp tỉnh B G;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TA huyện L N;
  • - C cục THADS huyện L N;
  • - các bị cáo;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B G về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 200/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B G
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ọ và tên: Nguyễn Bá T, sinh năm 1982 tại huyện L N, tỉnh B G; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh, trú quán: thôn Lai Cách, xã Thanh Hải, huyện L N, B G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; đảng, đoàn thể: không; bố đẻ: Nguyễn Bá Bình sinh năm 1955 (Đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1960; vợ: Lý Thị Sáu, sinh năm 1988; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger