|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 200/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-7-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hoàng
Bà Trần Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1273/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Trúc M, sinh năm 1987;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung Q, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An
(Bà M có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Q vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lê Thị Trúc M có đơn xin xét xử vắng mặt có văn bản trình bày: bà và ông Nguyễn Trung Q tự tìm hiểu nhau tiến tới hôn nhân và tổ chức lễ cưới vào năm 2021, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 08/3/2021. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vả. Bà và ông Q đã không còn sống chung từ năm 2022. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Trung Q.
Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Q có 01 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 09/11/2022. Hiện con chung đang sống chung bà M. Khi ly hôn bà M yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con .
Về chia tài sản: Bà M xác định về tài sản chung bà và ông Q không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà M xác định bà và ông Q không có nợ ai.
Bị đơn là ông Nguyễn Trung Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Văn bản tố tụng của Tòa án, thể hiện việc bà M xin ly hôn với ông Q, nhưng ông Q vẫn không có văn bản ý kiến trình bày đối với các yêu cầu khởi kiện của bà M.
Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Trúc M khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Trung Q. Ông Q đang cư trú tại xã H, huyện Đ. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn là bà Lê Thị Trúc M có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
[3] Nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M có đơn nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Nguyễn Trung Q được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà M, ông Q.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M:
[4.1] Về hôn nhân: Xét thấy, bà Lê Thị Trúc M và ông Nguyễn Trung Q tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 24/2021 đăng ký ngày 08/3/2021 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp, nên hôn nhân giữa bà M và ông Q là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà M và ông Q đã phát sinh mâu thuẫn mà các bên cũng đã thừa nhận. Xét thấy, bà M yêu cầu ly hôn với ông Q, ông Q cũng đã đồng ý, chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà M và ông Q là có thật, quan hệ hôn nhân của hai đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà M yêu cầu ly hôn với ông Q là có cơ sở, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị Trúc M được ly hôn với ông Nguyễn Trung Q.
[4.2] Về nuôi con chung: Theo bà M trình bày là bà và ông Q có 01 con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 09/11/2022, giới tính: Nam. Hiện tại, cháu K đang do bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Mặc khác, ông Q cố tình vắng mặt, nên không thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, trong học tập, nên cần giao cháu Nguyễn Quốc K cho bà M được trực tiếp chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu K đã thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của M không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.
[4.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do ông Q vắng mặt, không có ý kiến trình bày; Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và bà M xác định giữa ông và ông Q không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Buộc bà Lê Thị Trúc M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Trúc M về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Nguyễn Trung Q.
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Trúc M được ly hôn với ông Nguyễn Trung Q.
- Về nuôi con chung: Bà Lê Thị Trúc M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc K, sinh ngày 09/11/2022, giới tính: Nam. Ông Nguyễn Trung Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bà Lê Thị Trúc M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004283 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà Lê Thị Trúc M đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn bà Lê Thị Trúc M, bị đơn ông Nguyễn Trung Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hiền |
Bản án số 200/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 200/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Trúc M ly hôn Nguyễn Trung Q
