|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 200/2023/HSST Ngày: 29/11/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
+ Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Kim Luyến
- Bà Trần Thị Hồng Phi
+ Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp -Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 194/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 910/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Minh T
- Nữ; Tên gọi khác: không; sinh năm 2000; Nơi sinh: Sóc Trăng; ĐKTT: ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: Nhà trọ hẻm E, đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Phan Văn H, sinh năm 1978 (sống); Họ và tên mẹ: Lý Hồng X, sinh năm 1979 (sống); A, chị, em ruột: có 01 người, sinh năm 1999; Bị cáo chưa có chồng, con;
- Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/7/2023 đến ngày 26/7/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N – có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 17/7/2023 Phan Minh T và M (bạn trai của T không rõ họ tên, nhân thân lai lịch), Trương Mỹ D và bạn trai tên T1 (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch) thuê phòng tại khách sạn T2, địa chỉ số I đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ để cùng đi dự tiệc cưới của người bạn. Đến chiều cùng ngày, do M có việc đi ra ngoài nên nói T lên phòng 206 của khách sạn T2 đợi M quay lại đón; khi T đến phòng 206, lúc này trong phòng có D và T1 cùng 02 thanh niên giới thiệu tên Đ và M1 (không rõ họ tên, nhân thân lai lịch), T điện thoại nói Lê Huỳnh Khả V đến phòng 206 khách sạn T2 để cùng đi dự tiệc cưới, một lúc sau thì V đến. Tại đây, T, D và V được nhóm thanh niên mời sử dụng ma túy gồm thuốc lắc và khây, T, D và V đồng ý tham gia sử dụng; D và V sau khi sử dụng thuốc lắc và khây thì đi ngủ, riêng T trong lúc sử dụng ma túy thì có M1 đến đưa 01 gói nilon bên trong có 03 viên thuốc lắc màu cam và một phần viên thuốc lắc màu vàng (tất cả không rõ hình dạng) nhờ T cất giữ, M1 đi ra ngoài có việc một chút sẽ quay lại lấy, T đồng ý và cất giấu gói nilon chứa thuốc lắc vào trong túi xách màu đen. Sau đó, T1, M1 và Đ đều ra khỏi phòng 206, trong phòng lúc này chỉ còn lại T, D và V đang ngủ; đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận N cùng Công an phường A đến kiểm tra phòng 206 phát hiện và thu giữ các chất nghi là ma túy trên nền gạch phòng 206 và trong túi xách của T nên đã lập biên bản thu giữ những vật chứng sau:
- - 01 gói nilon không màu nẹp miệng, viền đỏ bên trong có chất bột màu trắng; 01 gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ bên trong có 03 viên nén màu vàng và một phần viên nén màu vàng (tất cả không rõ hình dạng), để trên đĩa sứ màu trắng, để trên nền gạch;
- - 01 gói nilon không màu, nẹp miệng viền xanh bên trong có 03 viên nén màu cam và một phần viên nén màu vàng để trong túi xách cầm tay màu đen có ghi chữ HERMES-PARIS đặt dưới nền gạch (của T).
- - 01 thẻ nhựa màu đen; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn;
- - 01 dĩa sứ màu trắng;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, màu đen, đã qua sử dụng (thu giữ của Phan Minh T);
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, màu tím, đã qua sử dụng (thu giữ của Lê Huỳnh Khả V).
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro max, màu xanh đã qua sử dụng (thu giữ của Trương Mỹ D). Bút lục: 28-29.
Tại Kết luận giám định số 246/KL - KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận:
- - Gói 1: 01 gói nilon không màu nẹp miệng, viền đỏ bên trong có chất bột màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định, là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,7641 gam.
- - Gói 2: 03 viên nén màu vàng và 01 phần viên nén màu vàng (ký hiệu M2) gửi giám định, là ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,5408 gam.
- - Gói 3: thu giữ trong túi xách của Phan Minh T:
- + 01 phần viên nén màu vàng (ký hiệu M3A) gửi giám định, là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0, 2090 gam.
- + 03 viên nén màu cam (ký hiệu M3B) gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4279 gam (bút lục: 19).
Quá trình điều tra, bị cáo Phan Minh T khai nhận, khi vào phòng 206, khách sạn T2, bị cáo cùng D, V được T1, Đ và M1 mời và đã sử dụng ma túy, bị cáo không biết ma túy của ai; sau đó M1 đã đưa gói nilon có 03 viên nén màu cam và 01 phần viên nén màu vàng nhờ bị cáo giữ, một lúc Mau quay lại lấy, bị cáo biết rõ gói nilon chứa các viên nén là ma túy nhưng vẫn đồng ý cất giữ trong túi xách giúp M2. Khi M1, T1 và Đ đi khỏi phòng 206 khoảng hơn 30 phút thì lực lượng Công an đến kiểm tra phòng 206, phát hiện gói ma túy trong túi xách của bị cáo. Riêng gói ma túy loại Ketamine, 03 viên nén màu vàng và 01 phần viên nén màu vàng là ma túy loại MDMA, lực lượng Công an thu giữ trên đĩa sứ trên nền gạch của phòng 206, bị cáo không biết của ai.
Qua làm việc, Trương Mỹ D và Lê Huỳnh Khả V cũng khai nhận được các đối tượng nam ở phòng 206 mời sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma túy D và V đi ngủ nên không biết việc bị cáo T cất giấu ma túy giùm Mau, đối với số ma túy trên đĩa sứ trên nền gạch của phòng 206, D và V cũng không biết là của ai. Qua kiểm tra chất ma túy của D và V có kết quả dương tính nên Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an quận N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời trả lại các tài sản không liên quan đến hành vi phạm cho Trương Mỹ D và Lê Huỳnh Khả V (bút lục: 96 -106, 112-113).
Đối với số ma túy gồm 0,7641 gam Ketamine và 1,5408 gam MDMA thu giữ trên đĩa sứ trong phòng 206 khách sạn T2, quá trình điều tra chưa xác định được là của ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã tách riêng, khởi tố vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời tiếp tục xác minh các đối tượng tên M, M1, T1 và Đ ở phòng 206 mời bị cáo T cùng D và V sử dụng trái phép ma túy và gửi ma túy cho bị cáo T cất giấu, để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 217/CT - VKSNK ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Phan Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị cáo, bị cáo ăn năn, hối cải thành khẩn khai báo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phan Minh T thừa nhận hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra và lời khai người làm chứng. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về tình tiết tăng nặng: Không. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/7/2023.
Hình phạt bổ sung: không. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 246G3/KL - KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K - Công an T do là ma túy là chất cấm lưu hành và 01 thẻ nhựa màu đen; 01 dĩa sứ màu trắng là dụng cụ sử dụng ma túy; 01 túi xách cầm tay màu đen có ghi chữ HERMES – PARIS, đã qua sử dụng có liên quan đến hành vi phạm tội. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro max, màu đen, đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: Ngày 17/7/2023, Phan Minh T cùng nhóm bạn thuê phòng 206 tại khách sạn T2, địa chỉ số I đường C, phường A, quận N để dự tiệc cưới. Tại đây, bị cáo cùng D, V được T1, Đ và M1 mời và đã sử dụng ma túy, bị cáo không biết ma túy của ai; sau đó M1 đã đưa gói nilon có 03 viên nén màu cam và 01 phần viên nén màu vàng nhờ bị cáo giữ, một lúc Mau quay lại lấy, bị cáo biết rõ gói nilon chứa các viên nén là ma túy nhưng vẫn đồng ý cất giữ trong túi xách giúp M2. Khi M1, T1 và Đ đi khỏi phòng 206 khoảng hơn 30 phút thì lực lượng Công an đến kiểm tra phòng 206, phát hiện gói ma túy trong túi xách của bị cáo.
Tại Bản kết luận giám định số: 246/KL - KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận:
- - Gói 3: thu giữ trong túi xách của Phan Minh T:
- + 01 phần viên nén màu vàng (ký hiệu M3A) gửi giám định, là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0, 2090 gam.
- + 03 viên nén màu cam (ký hiệu M3B) gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4279 gam.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Phan Minh T đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 1.6369 gam ma túy loại Methamphetamine và MDMA nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo với lỗi cố ý và là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm đến tình hình trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
[3] Về tính tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.
[4] Về tình tiết tăng nặng: không.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: không
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Đối với chất ma túy trong 01 gói niêm phong số 246G3/KL - KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K - Công an T do là ma túy là chất cấm lưu hành và 01 thẻ nhựa màu đen; 01 dĩa sứ màu trắng là dụng cụ sử dụng ma túy; và 01 túi xách cầm tay màu đen có ghi chữ HERMES – PARIS, đã qua sử dụng có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn để sử dụng ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, imei: 352680947684174 là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo T về tội danh, điều luật, mức hình phạt, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp.
Đối với số ma túy gồm 0,7641 gam Ketamine và 1,5408 gam MDMA thu giữ trên đĩa sứ trong phòng 206 khách sạn T2, quá trình điều tra chưa xác định được là của ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã tách riêng, khởi tố vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời tiếp tục xác minh các đối tượng tên M, M1, T1 và Đ ở phòng 206 mời bị cáo T cùng D và V sử dụng trái phép ma túy và gửi ma túy cho bị cáo T cất giấu, để xử lý theo quy định.nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
2. Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Phan Minh T 01 (một) năm tù giam.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 7 năm 2023.
- - Hình phạt bổ sung: không.
3. Về xử lý vật chứng: Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 246G3/KL - KTHS ngày 25/7/2023 của Phòng K - Công an T và 01 thẻ nhựa màu đen; 01 dĩa sứ màu trắng và 01 túi xách cầm tay màu đen có ghi chữ HERMES – PARIS, đã qua sử dụng,
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu đen, imei: 352680947684174, đã qua sử dụng
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
* Nơi nhận:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Yến Nhi |
Bản án số 200/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 200/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Minh Th có hành vi tàng trữ trái phép chấp ma tuý
