TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 200 /2023/ HNGĐ-ST Ngày: 28 - 8 -2023 “V/v Ly hôn giữa chị T và anh K” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà TRẦN TÚ ANH
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông NGUYỄN PHƯỚC TƯỜNG
- Ông TRẦN VĂN NHU
- Thư ký phiên tòa: Bà ĐẶNG THỊ THÙY DUNG - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông TRẦN VĂN QUỐC- Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1987.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn K, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp Đ, xã K, thành phố S, thành phố Đồng Tháp.
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
( Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm T trình bày: Do quen biết và được gia đình đồng ý chị và anh K tiến đến hôn nhân năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên thường hay cãi nhau, thậm chí xảy ra xô xát, anh K có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Hai người đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay.
Con chung: có 02 con chung tên Huỳnh Bảo M sinh ngày 05/3/2013 và Huỳnh Ngọc M1, sinh ngày 24/01/2018, hiện đang sống cùng chị.
Tài sản chung: không tranh chấp.
Nợ chung không có.
Chị T yêu cầu ly hôn anh K. Con chung chị yêu cầu nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
- Bị đơn anh Huỳnh Văn K tại tờ tự khai, biên bản hòa giải trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của chị T về thời gian tiến đến hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẩn vợ chồng do chị T có quan hệ tình cảm với anh rể mình, vợ chồng chính thức ly thân từ ngày 23/02/2023. Anh đồng ý ly hôn với chị T. Con chung anh yêu cầu nuôi cháu M1, để cháu Bảo M cho chị T nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có.
Tại phiên tòa, anh K đồng ý ly hôn chị T. Con chung anh yêu cầu nuôi cháu Bảo M, chị T nuôi cháu M1. Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự thực hiện đúng qui định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định pháp luật Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh K, yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Do đó xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo qui định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang nên thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang theo qui định tại điểm a, khoản 1, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị T và anh K tiến đến hôn nhân năm 2013 trên cơ sở có sự tìm hiểu nhau trước, có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẩn và ly thân từ tháng 2/2023 đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên thường hay cãi nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T xác định không còn tình cảm với anh K nên kiên quyết ly hôn. Đối với anh K cũng đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy mâu thuẩn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xem xét cho chị T được ly hôn với anh K là phù hợp điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Huỳnh Bảo M sinh ngày 05/3/2013 và Huỳnh Ngọc M1, sinh ngày 24/01/2018. Chị T yêu cầu được nuôi cả 02 con chung khi vợ chồng ly hôn. Còn anh K thì yêu cầu được nuôi cháu Bảo M. Đối với cháu M trong quá trình giải quyết vụ án có nguyện vọng sống cùng chị T. Xét thấy, con chung được chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng từ trước đến giờ cháu vẫn phát triển bình thường, chị T cũng có công việc ổn định. Mặc khác, nếu giao cho mỗi người nuôi 01 con chung thì sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của con chung. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống của 02 con chung cũng như xem xét đến nguyện vọng của con và điều kiện chăm sóc của mỗi bên nên Hội đồng xét xử giao 02 cháu Bảo M và M1 cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu, anh K không tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu ly hôn được chấp nhận theo qui định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[4] Xét, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Diễm T.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Diễm T được ly hôn với anh Huỳnh Văn K.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Huỳnh Bảo M sinh ngày 05/3/2013 và Huỳnh Ngọc M1, sinh ngày 24/01/2018 cho chị Nguyễn Thị Diễm T nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Huỳnh Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo qui định pháp luật.
- Về án phí: Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011059 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C xem như thi hành xong.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN TÚ ANH |
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 51-DS:
- (1) Ghi tên Toà án tiến hành phiên hoà giải và lập biên bản hoà giải thành; nếu là Toà án nhân dân cấp huyện, thì cần ghi huyện nào thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện X, tỉnh H). Nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thì ghi rõ Toà án nhân dân tỉnh, (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh H).
- (2) Ghi địa điểm nơi tiến hành phiên toà (ví dụ: Tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh N; hoặc: Tại Hội trường Uỷ ban nhân dân huyện S, thành phố H).
- (3) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm thì ghi “sơ thẩm”; nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm thì ghi “phúc thẩm”.
- (4) Ghi đầy đủ tên thành viên Hội đồng xét xử.
- (5) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu tại cấp sơ thẩm thì ghi “TLST”, nếu tại cấp phúc thẩm thì ghi “TLPT”; ô thứ tư nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).
- (6) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
- (7) Ghi đầy đủ tên của các đương sự tương ứng với tư cách đương sự trong vụ án.
- (8) Nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, hoặc lẽ công bằng (nếu có).
- (9) Ghi các ý kiến thảo luận, biểu quyết và quyết định của Hội đồng xét xử theo từng vấn đề của vụ án, nếu có ý kiến khác thì ghi rõ ý kiến của thành viên Hội đồng xét xử có ý kiến khác.
Bản án số 200/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 200/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
