|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 200/2024/HS-ST Ngày 26-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Hồng Nhung.
Ông Đinh Xuân Dậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Phạm Thị O, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (Đã chết) và bà Nguyễn Thị M (Đã chết); Có chồng tên Nguyễn Châu P, sinh năm 1988 (Đã ly hôn năm 2022); Có 02 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
2/ Họ và tên: Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1993 tại tỉnh Tiền Giang; Hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1972 và bà Lê Thị L, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 28/11/2018, bị Tòa án huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2022 tại trại giam P1.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ ngày 26/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên O đã điều khiển xe mô tô biển số 60Z1-1489 đến nhà Đ ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai để rủ Đ góp tiền mua ma túy đá về sử dụng riêng thì Đ đồng ý. Do người bán chỉ bán từ 800.000 đồng tiền ma túy trở lên nên O thỏa thuận với Đ là O góp 500.000 đồng còn Đ góp 300.000 đồng để mua ma túy. Sau đó O điều khiển xe mô tô biển số 60Z1-1489 đi đến đường N ở xã S, huyện T gặp Đ1 (chưa rõ nhân thân lai lịch mua 03 gói ma túy đá với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được ma túy O đi về nhà Đ và đưa cho Đ 02 gói ma túy nhỏ còn O lấy 01 gói ma túy lớn. Trong khi O vào nhà Đ để lấy số tiền 300.000 đồng mua ma túy thì Công an xã T kiểm tra phát hiện Đ đang cất dấu 02 gói ma túy ở trên bàn trong phòng ngủ và O cất dấu 01 gói ma túy trong hộp nhựa để trên xe mô tô biển số 60Z1-1489. Qua làm việc O và Đ khai nhận đây là ma túy mua về để sử dụng.
Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T trưng cầu giám định số: 618/QĐ-KTMT để giám định 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Huỳnh Văn Đ và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng đựng trong 01 (một) lọ thuốc hình trụ cao khoảng 05 cm màu trắng, được niêm phong vào phong bì dán kín có chữ ký của Phạm Thị O và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T.
Tại Bản kết luận số: 2913/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận:
“Mẫu chất màu trắng (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,258 gam, loại: Methamphetamine.
- Mẫu chất màu trắng (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,311 gam, loại: Methamphetamine.
Ngày 03/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ để điều tra.
* Tang vật thu giữ gồm:
- + 01 gói nylon chứa chất màu trắng được hàn kín để trong 01 lọ thuốc hình trụ cao khoảng 05cm màu trắng;
- + 02 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng.
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển số 60Z1-1489 do bà Nguyễn Thị M1 đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe.
- + Số tiền 900.000 đồng, 01 căn cước công dân tên Huỳnh Văn Đ, 01 (một) điện thoại hiệu VIVO, số IMEI: 861428050893990 gắn sim số 0374469830 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (đã qua sử dụng) của Huỳnh Văn Đ;
- + Số tiền 400.000 đồng, 01 điện thoại ViVo màu xanh đen, số IMEI: 864415056344273 gắn số sim 0971584373 (tất cả đã qua sử dụng) của Phạm Thị O.
Tại Cáo trạng số: 187/CT-VKS-TB ngày 04/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Phạm Thị O về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thị O với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù giam.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bị cáo Huỳnh Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù giam.
- - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Đối với 01 phong bì chứa ma túy được được niêm phong sau giám định số: 2913/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy;
- - Số tiền 300.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Tòa án tịch thu sung công.
- - 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển số 60Z1-1489 do bà Nguyễn Thị M1 đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Hiện nay do chưa làm việc được với bà M1 nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra làm rõ xử lý sau.
- - Số tiền 900.000 đồng và 01 (một) điện thoại hiệu VIVO gắn sim số 0374469830, 01 (một) căn cước công dân của Đ không sử dụng vào việc phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho Đ.
- - Số tiền 400.000 đồng, 01 điện thoại Vi Vo màu xanh đen gắn số sim 0971584373 của O không sử dụng vào việc phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho bị cáo O.
Về án phí: Bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố. Từ đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 9 giờ ngày 26/12/2023, tại ấp T, xã T, huyện T, Công an xã T, huyện T bắt quả tang Phạm Thị O đang tàng trữ 0,311 gam ma túy loại Methamphetamine trong hộp nhựa để trên xe mô tô hiệu Air blade màu đen, biển số 60Z1-1489 và Huỳnh Văn Đ đang tàng trữ 0,258 gam ma túy, loại Methamphetamine trên bàn trong phòng ngủ của Đ. Hành vi của các bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố.
[3] Về trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống và gây mất trật tự trị an cho xã hội nên cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc kỹ. Bị cáo O là người chủ động rủ rê bị cáo Đ góp tiền mua ma túy và trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng chung nên mức án của bị cáo O phải cao hơn bị cáo Đ.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4.1] Bị cáo Đừng phạm tội khi chưa được xóa án tích đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4.2] Bị cáo O không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
[6.1] Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định số: 2913/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã qua sử dụng.
[6.2] Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
[6.3] Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển số 60Z1-1489 do bà Nguyễn Thị M1 đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Hiện nay do chưa làm việc được với bà M1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách ra làm rõ xử lý sau.
[6.4] Đối với số tiền 900.000 đồng và 01 (một) điện thoại hiệu VIVO gắn sim số 0374469830, 01 căn cước công dân của bị cáo Đ không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị cáo Đ theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6.5] Đối với số tiền 400.000 đồng, 01 điện thoại Vi Vo màu xanh đen gắn số sim 0971584373 của bị cáo O không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho bị cáo theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông tên Đ1 đã bán ma túy cho bị cáo O, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở để xử lý.
[8] Về án phí: Các bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị O 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.
1.2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong số: 2913/KL-KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã qua sử dụng.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng.
(Theo biên lai thu tiền số: 0003608 ngày 07/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo Phạm Thị O và Huỳnh Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 200/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ 0,258 gam ma túy, loại Methamphetamine
