|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 200/2024/HS-ST Ngày 23-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 187/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 446/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 464/2024/QÐST- HS ngày 16/8/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng H, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1981 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; ông Nguyễn Danh H1 và Dương Thị M; có vợ là Đàm Thị N (đã ly hôn) và hai con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2017/HSST ngày 30/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản, tháng 2/2019 chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/5/2024; có mặt.
Bị hại: Chị Chu Thị Xuân H2, sinh năm 1978; trú tại: Số B L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/4/2024 chị Chu Thị Xuân H2 là quản lý cửa hàng B địa chỉ số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng có đơn trình báo đến Công an quận N về việc bị mất trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng và giao nộp 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến sự việc ngày 07/4/2024. Ngày 23/4/2024, Nguyễn Hồng H đến Công an quận N để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 07/4/2024, Nguyễn Hồng H điều khiển xe máy điện BKS 15MĐ1-649.02 đến cửa hàng bia, địa chỉ số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng để uống bia. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, H ra quầy thu ngân của cửa hàng để thanh toán tiền thì thấy trên mặt bàn quầy thu ngân có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng (của chị Chu Thị Xuân H2), quan sát không có ai trông coi nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng khi chị Nguyễn Diệu L (sinh năm 1989, trú tại: Số A T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng là nhân viên thu ngân) đang thanh toán tiền, H dùng tay trái lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi khỏi cửa hàng, điều khiển xe máy điện đi về nhà cất giấu chiếc điện thoại trên. Khoảng 02 ngày hôm sau, H cầm chiếc điện thoại đã trộm cắp được ra quán nước trên đường L (không xác định địa chỉ cụ thể) bán cho 01 người đàn ông (không xác định được căn cước, lai lịch) được 1.700.000 đồng và ăn tiêu hết.
Ngày 24/4/2024, ông Nguyễn Danh H1 (sinh năm 1952; trú tại: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng là bố đẻ của H) giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N 01 xe máy điện BKS: 15MĐ1-649.02.
Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận N kết luận: Điện thoại Iphone 11 Promax 256G màu vàng, đã qua sử dụng đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên có giá 9.257.000 đồng.
Kết luận giám định số 1525/KL-KTHS ngày 22/05/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Xe máy điện nhãn hiệu Vinfast mang biển kiểm soát: 15MĐ1-649.02 có số khung và số máy nguyên thủy, không phát hiện thấy tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự, giấy đăng ký mang tên Nguyễn Hồng H.
Về phần dân sự: Nguyễn Hồng H đã bồi thường cho chị Chu Thị Xuân H2 số tiền 7.000.000 đồng, chị H2 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với H.
Về đồ vật tạm giữ, xử lý vật chứng:
Chiếc điện thoại Iphone 11 Promax 256G màu vàng, đã qua sử dụng chưa thu hồi được. Kết quả điều tra xác định xe máy điện nhãn hiệu Vinfast BKS: 15MĐ1-649.02 là tài sản của ông Nguyễn Danh H1, năm 2020 ông H1 có nhờ Nguyễn Hồng H mua hộ vì trước đây H là công nhân của nhà máy V nên được hưởng giá ưu đãi, do đó đăng ký xe mang tên Nguyễn Hồng H. Ngày 07/4/2024, H tự ý lấy xe đi đến cửa hàng bia rồi trộm cắp tài sản, ông H1 không biết sự việc trên. Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả lại 01 xe máy điện BKS: 15MĐ1-649.02 cho ông Nguyễn Danh H1.
Tại Bản Cáo trạng số 189/CT-VKSNQ ngày 24/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Hồng H khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, được ở ngoài xã hội để tiếp tục làm việc và sửa chữa sai lầm của bản thân.
Bị hại chị Chu Thị Xuân H2 vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố các lời khai có trong hồ sơ thể hiện chị H2 đã nhận số tiền bồi thường của bị cáo là 7.000.000 đồng, chị H2 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo H. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an quận N, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hồng H tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 17/4/2024, tại quầy thu ngân nhà hàng B1, địa chỉ số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Hồng H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax dung lượng 256G, màu vàng của chị Chu Thị Xuân H2 trị giá 9.257.000 đồng.
[3] Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Hồng h phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.
· Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo đã đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
· Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
[6] Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội phạm ít nghiêm trọng đã được xoá án tích, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường trị giá điện thoại cho bị hại. Như vậy có thể đánh giá bị cáo đã có ý thức hối cải và sửa chữa sai lầm. Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố mẹ đều già yếu (mẹ đang bị ung thư phổi), bản thân bị cáo đã ly hôn vợ và đang phải nuôi 02 con. Do vậy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm và thực hiện trách nhiệm chăm sóc bố mẹ già yếu và nuôi con nhỏ.
[7] Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
· Về biện pháp ngăn chặn:
[8] Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Hồng H.
· Về xử lý vật chứng:
[9] Tài sản trộm cắp là chiếc điện thoại Iphone 11 Promax 256G màu vàng, đã qua sử dụng chưa thu hồi được.
· Về trách nhiệm dân sự:
[11] Bị hại chị Chu Thị Xuân H2 đã nhận bồi thường về tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[12] Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[13] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hồng H cho Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát và giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo”.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
...”.
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Hồng H.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Hồng h phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Nguyễn Hồng H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại chị Chu Thị Xuân H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hậu |
Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 200/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ha
