|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 200/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Ngân |
| Ông Trần Ngọc Đăng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số C, đường V, khu V, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Trần Thị Hà T1, sinh năm 1996;
Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An;
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số B, hẻm A, đường T, khu H, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H;
Cùng địa chỉ cư trú: Xóm G, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin xét xử vắng mặt (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh và chị Trần Thị Hà T1 kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/6/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Đến tháng 11/2018, anh sang Đài Loan và khoảng tháng 12/2018 thì chị T1 cũng sang Đài Loan. Từ đó, vợ chồng cùng chung sống và làm việc tại Đài Loan. Đến khoảng tháng 3/2019 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Do bất đồng về quan điểm sống, có nhiều khác biệt trong tính cách và sinh hoạt hằng ngày nên vợ chồng không hòa hợp và không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để giải quyết những bất đồng và hàn gắn tình cảm gia đình nhưng vẫn không có kết quả. Từ khoảng tháng 4/2019 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị Hà T1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo H1, sinh ngày 11/01/2016. Hiện con chung đang ở cùng với cha mẹ chị T1 là ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H. Nếu ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị Trần Thị Hà T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn T hiện đang cư trú và làm việc tại Đài Loan không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho chị Lê Thị D; địa chỉ cư trú: Số B P, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh có đơn xin xét xử vắng mặt.
Theo bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin xét xử vắng mặt (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), bị đơn chị Trần Thị Hà T1 trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/6/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Đến khoảng tháng 11/2018, anh T sang Đài Loan và khoảng tháng 12/2018 thì chị cũng sang Đài Loan. Từ đó, vợ chồng cùng chung sống và làm việc tại Đài Loan. Đến khoảng tháng 3/2019 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, có sự khác biệt nhau trong tính cách và sinh hoạt
hàng ngày nên không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để giải quyết những bất đồng và hàn gắn tình cảm gia đình nhưng vẫn không có kết quả. Từ khoảng tháng 4/2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Hiện tại chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo H1, sinh ngày 11/01/2016. Hiện con chung đang ở cùng với cha mẹ chị là ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến lúc trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do chị đang làm việc tại Đài Loan nên chị tiếp tục nhờ ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1 cho đến khi chị về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Trần Thị Hà T1 hiện đang cư trú và làm việc tại Đài Loan không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho anh Nguyễn Viết D1; địa chỉ cư trú: Số B P, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nộp bản tự khai, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H có đơn trình bày:
Ông bà là cha mẹ của chị Trần Thị Hà T1. Anh Nguyễn Văn T và chị T1 có đăng ký kết hôn trên cơ sơ tự nguyện đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau một thời gian chung sống, anh T và chị T1 sang Đài Loan làm việc và có gửi cháu Nguyễn Trần Bảo H1 cho ông bà chăm sóc từ tháng 12/2018 cho đến nay. Hiện tại, anh T và chị T1 ly hôn thì ông bà không yêu cầu anh T và chị T1 phải trả tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1. Do chị T1 đang làm việc ở nước ngoài nên tiếp tục nhờ ông bà chăm sóc cháu H1 trong thời gian chị T1 chưa về Việt Nam thì ông bà đồng ý. Đồng thời, ông bà đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn T hiện đang cư trú tại Đài Loan đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị Hà T1 có địa chỉ cư trú tại Đài Loan; trước xuất cảnh, anh T và chị T1 đều có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì nguyên đơn anh Nguyễn Văn T và bị đơn chị Trần Thị Hà T1 không thể tham gia hòa giải được do đang ở nước ngoài.
Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 hiện đang cư trú tại Đài Loan không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh T ủy quyền cho chị Lê Thị D; địa chỉ cư trú: Số B P, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, tài liệu (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ) và anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị T1 ủy quyền cho anh Nguyễn Viết D1; địa chỉ cư trú: Số B P, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nộp bản tự khai, tài liệu (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ) và chị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H đã nộp đơn trình bày cho Tòa án và đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 22 tháng 6 năm 2015, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Đến tháng 11/2018, anh T sang Đài Loan và đến tháng 12/2018 thì chị T1 cũng sang Đài Loan. Từ đó, vợ chồng cùng chung sống và làm việc tại Đài Loan. Đến tháng 3/2019, thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, có nhiều khác biệt trong tính cách và sinh hoạt hằng ngày nên vợ chồng không hòa hợp và không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để giải quyết những bất đồng và hàn gắn tình cảm gia đình nhưng vẫn không có kết quả. Từ tháng 4/2019 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nên anh T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Văn T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy
định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chấp nhận.
- Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 có 01 con chung. Nay ly hôn, anh T và chị T1 thỏa thuận: Chị Trần Thị Hà T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Trần Bảo H1, sinh ngày 11/01/2016 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị T1 đang ở nước ngoài nên ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H (cha mẹ của chị T1) nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trần Bảo H1 cho đến khi chị T1 về Việt Nam với cháu H1.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Trần Thị Hà T1, ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 của Luật hôn nhân và gia đình nên Tòa ghi nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 40; Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 được ly hôn.
-
Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
- Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 có 01 con chung;
- Giao cho chị Trần Thị Hà T1 được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con Nguyễn Trần Bảo H1, sinh ngày 11/01/2016 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị Trần Thị Hà T1 đang ở nước ngoài nên ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H (cha mẹ của chị T1) nhận trách nhiệm tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Trần Bảo H1 cho đến khi chị T1 về Việt Nam với cháu H1.
Về cấp dưỡng và công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Chị Trần Thị Hà T1, ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh T đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012693 ngày 28/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Văn T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hà T1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Trần Trung Đ và bà Phạm Thị H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 200/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 200/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Th và Th
