Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Mẫu số 52-DS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-12-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn và bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.

- Phường ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Phường ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà:

Không thuộc trường hợp Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa.

Trong ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành Phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 545/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 684/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 2000 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện T, An Giang

Bị đơn: Anh Phạm Tấn P1, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: G, khóm B, phường B, thành phố L, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 8 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ P thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:

Chị và anh P1 sau thời gian tìm hiểu cả hai tiến đến hôn nhân và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường B vào ngày 05/01/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình của cả hai không hợp nhau, anh P1 vô tâm không quan tâm đến vợ con, thường xuyên rượu bia nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hằng ngày, cả hai cũng đã hàn gắn nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Hiện tại chị không còn tình cảm với anh P1, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được do đó, chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1/ Về hôn nhân: ly hôn với anh P1;

2/ Về con chung: chị và anh P1 có 02 con chung Phạm Huỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 và Phạm Huỳnh H, sinh ngày 13/01/2022. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con;

3/ Về tài sản chung: không có;

4/ Về nợ chung: không có.

* Đối với yêu cầu khởi kiện của chị P, bị đơn anh P1 vắng mặt nhưng tại biên bản hòa giải ngày 04/11/2024 anh P1 thể hiện ý kiến như sau:

Anh thống nhất nội dung trình bày của chị P liên quan đến quá trình cả hai tiến đến hôn nhân. Tuy nhiên, anh thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng không lớn, anh vẫn còn tình cảm với vợ và anh không muốn hai con phải sống thiếu thốn tình cảm của cha mẹ nên anh không đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Tòa án tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm.

Giữa anh và chị P có hai con chung Phạm Huỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 và Phạm Huỳnh H, sinh ngày 13/01/2022.

Giữa anh và chị P không có tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh P1 vắng mặt không lý do nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị P khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với anh P1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh P1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh P1.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: Chị P và anh P1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B vào ngày 05/01/2021. Sau khi kết hôn chị P cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình của cả hai không hợp nhau, anh P1 vô tâm không quan tâm đến vợ con, thường xuyên rượu bia nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hằng ngày, cả hai cũng đã hàn gắn nhưng không được. Đối với yêu cầu ly hôn của chị P anh P1 không đồng ý.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa chị P và anh P1; anh, chị lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, anh P1 không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay, anh P1 vắng mặt. Mặc dù Hội đồng xét xử đã động viên chị P suy nghĩ lại, cho anh P1 thêm cơ hội để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn tuy nhiên chị P cương quyết không đồng ý và xác định không còn tình cảm với anh P1. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P với anh P1.

[3.2] Chị P và anh P1 có hai con chung Phạm Huỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 và Phạm Huỳnh H, sinh ngày 13/01/2022. Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi hai con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện hai con chung đang được chị P trực tiếp chăm sóc; cháu Huỳnh A mới hơn 03 tuổi còn cháu Huỳnh Hương H1 chưa được 03 tuổi; hai cháu đều là cháu gái. Do đó, cân nhắc quyền lợi về mọi mặt cho hai cháu; hạn chế tổn thương tâm lý cho hai cháu khi chị P và anh P1 ly hôn Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị P nuôi cả hai cháu khi chị P và anh P1 ly hôn.

Chị P phải tạo điều kiện cho anh P1 trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử phân tích việc yêu cầu cấp dưỡng là quyền lợi của con chung nhưng chị P cương quyết không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

[3.3] Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Chị P trình bày không có tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị P và anh P1 phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ P với anh Phạm Tấn P1.

2/ Về con chung: Phạm Huỳnh A, sinh ngày 19/12/2020 và Phạm Huỳnh H, sinh ngày 13/01/2022. Khi ly hôn, giao cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng khi chị P và anh P1 ly hôn.

Chị P phải tạo điều kiện cho anh P1 trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị P không yêu cầu.

3/ Về quan hệ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4/ Về quan hệ nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000699 ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Chị P đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Chị P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh P1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TPLX;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TPLX;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Lưu Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Bé Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 200/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của NĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger