TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 200/2024/HS-PT Ngày 05 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà và ông Trương Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi – Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 332/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Chau N và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Chau N, Chau Mi R, Chau Sanl đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Chau N, sinh năm: 1997; nơi sinh: T, tỉnh An Giang; nơi cư trú hiện tại: Tổ D, ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau K và bà Nèang D; vợ tên Nèang S, có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Chau Mi R, sinh năm: 1992; nơi sinh: T, tỉnh An Giang; nơi cư trú hiện tại: Tổ D, ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau T và bà Nèang S1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Chau S2, sinh năm: 1997; nơi sinh: T, tỉnh An Giang; nơi cư trú hiện tại: Tổ D, ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau T và bà Nèang S1; có vợ Nèang Chanh Đa, có 3 con; tiền án, tiền : Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Chau N: Bà Lê Hồ Bích H, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Chau Mi R và Chau S2: Ông Trần Phước T1, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người bị hại: Ông Chau T2, sinh năm 1991; nơi cư trú hiện tại: ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nèang S, sinh năm 2002; trú tại: ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người phiên dịch: Ông Chau Sóc X – Phiên dịch viên Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh A. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 17/4/2023, Chau Đ và Chau Si N1 tổ chức uống rượu với Chau C, Chau T2, Chau M, Chau K1, Chau Mi R, Chau N và một số người khác tại nhà của N1 (thuộc ấp B, xã A, thị xã T). Trong lúc uống rượu, Ra thấy C nhìn mặt của K1, nên R nói C "Mày muốn gì" thì Ra cùng với K1 đi về nhà.
Khi về đến nhà, R gặp Chau S3 (cháu ruột của R) nói có chuyện xảy ra tại nhà N1, kêu S3 chở Ra lại nhà của N1, được S3 đồng ý, lúc này S3 thấy Chau S2 (em ruột của Ra) cũng đang ở nhà, nên S3 nói việc Ra cãi nhau ở nhà của N1 cho S2 biết, thì Ra, S2 và S3 vào nhà lấy mỗi người 01 cây dao yếm, rồi lên xe mô tô cho S3 điều khiển xe chở R và S2 đến nhà của N1. Đến nhà N1, S3 dừng xe cách nhà N1 khoảng 36m, thì Ra, S2 và S3 cầm dao đi vào nhà N1, R đi đến dùng chân đá trúng vào người của C 01 cái, rồi R, S2 và S3 cầm dao đòi chém C, được mọi người can ngăn, N ở gần đó thấy S3 trên tay cầm dao đang xô đẩy với Chau D1, N sợ S3 chém D1, nên N giật lấy cây dao trên tay S3 cầm đi theo Ra.
Cùng lúc này, Ra thấy T2 đang ngồi trên giường gần nhà của N1 nói chuyện điện thoại, R nghĩ T2 điện thoại kêu người đến đánh R, nên R cầm dao đi đến đứng đối diện với T2 đang ngồi, rồi Ra chém một cái trúng vào đầu của T2 gây thương tích, bị chém T2 nhảy từ trên giường xuống bỏ chạy về hướng Nô, do N cũng tức giận việc T2 điện thoại kêu người lại, N liền cầm cây dao chém Thonl một cái, T2 đưa tay trái lên đỡ bị trúng vào bàn tay trái gây thương tích, thì T2 chụp lấy cây dao và giằng co với N, rồi T2 buông tay ra bỏ chạy, còn N bỏ đi về nhà. Sau đó, T2 được gia đình đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh, đến ngày 04/5/2023 thì xuất viện về nhà. Qua vụ việc Chau Thonl yêu cầu các bị cáo bồi thường tất cả các chi phí là 130.000.000 đồng.
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 473/23/KLTTCT-TTPY ngày 30/7/2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận như sau: Sẹo vùng đính chấm nằm ngang kích thước (05x0.4) cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 02%. Sẹo từ mô cái ngón I đến kẻ ngón IV - V mặt lòng bàn tay trái nằm xiên kích thước (13.5x0.3) cm là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 02%; Gây đứt gân gấp sâu ngón I, IV, V bàn tay trái, đã phẫu thuật khâu nối gân gấp; Hiện tại cứng một khớp liên đốt ngón I, IV, V, tỷ lệ là 08%; Tổng tỷ lệ là 10%. Sẹo mặt lòng vòng ra mặt lưng đốt 1 - 2 ngón V bàn tay trái dạng vát kích thước (05x0.3) cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ 02%. Sẹo mổ thám sát đầu trên phía mặt lòng đốt 1 ngón V kích thước (2.5x0.1)cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ 01%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vật sắc gây nên thương tích của Chau T2 là 14%.
Ngày 13/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chau N, C Ra về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngày 23/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Chau Mi R và ra quyết định khởi tố bị can đối với Chau S2 và Chau S3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSTB-HS ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị cáo Chau N, Chau Mi R và Chau S2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Chau N: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt: bị cáo Chau M1 Ra 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt của 02 bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Chau S2 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 04/10/2024 và ngày 07/10/2024, các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm hình phạt cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( bị cáo Chau S2 còn áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015); xử phạt bị cáo Chau N, bị cáo Chau M1 Ra mỗi bị cáo 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù. Bị cáo Chau S2 01 năm 06 tháng đến 1 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; các phần còn lại giữ y bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Chau N bà Lê Hồ Bích H phát biểu ý kiến: Đối với bị cáo M1 Ra hiện là lao động chính trong gia đình, tại phiên tòa phúc thẩm có bồi thường thêm cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù.
Người bào chữa cho bị cáo Chau Mi R và Chau S2 có ông Trần Phước T1 phát biểu ý kiến: Các bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự tại phiên tòa phúc bồi thường cho bị hại số tiền 45.000.000đ; bị cáo Chau Mi R, Chau S2 là anh em ruột, nên việc giam hai bị cáo gây khó khăn cho gia đình bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo cũng đủ giáo dục các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Chau N, C Ra và Chau Sanl hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 10 giờ ngày 17/4/2023, tại nhà của Chau Si N1, thuộc ấp B, xã A, thị xã T. Chau Si N1 tổ chức uống rượu cùng với Chau C, C, Chau M, Chau K1, Chau Đ, Chau Mi R, C; nhậu được một lúc, thấy C nhìn mặt Chau K1, nên Chau Mi R và Chau K1 đi về nhà. Sau đó Chau N, Chau Mi R, Chau S2 vào nhà của R; mỗi người cầm theo một cây dao yếm do S3 điều khiển xe chở Chau M1 Ra và Chau S2 đến nhà của N1. Khi đến nhà của Si N1, C Ra dùng chân đá vào người của Chau C một cái và được mọi người can ngăn, Chau N ở gần đó, thấy trên tay Chau S3 có cầm dao nên sợ S3 chém người nên lấy cây dao và cầm đi theo Chau Mi Ra. Lúc này Chau M1 Ra thấy Chau T2 đang ngồi trên giường nói chuyện điện thoại, Ra nghĩ là T2 kêu người lại đánh R, nên R cầm dao yếm chém trúng vào đầu của T2, T2 bỏ chạy về hướng C, thì N cầm dao lấy của S3 chém một cái thì T2 đưa tay lên đỡ bị trúng một cái rồi chụp lấy dao giằng co với Chau N; tỷ lệ thương tích của Chau Thonl 14%.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý. Trong vụ án này, giữa bị hại với bị cáo không có mâu thuẫn gì, chỉ vì nghi ngờ chưa có căn cứ bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thương tích 14% sức khỏe, hành vi nêu trên của bị cáo thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm”, đây là các tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, để xử phạt bị cáo Chau N, Chau M1 Ra 02 năm 06 tháng tù, bị cáo Chau S2 02 năm tù là có căn cứ đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của các bị cáo Chau N, C Ra và C, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy; Mức hình phạt 2 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Chau N, Chau Mi Ra và hình phạt 02 năm đối với Chau S2 thì thấy: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần cho bị hại, vai trò đồng phạm của các bị cáo mang tính chất giản đơn, không có bàn bạc, phân công trước, nhưng cũng cần phần hóa hành vi phạm tội để xem xét mức hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo; đối bị cáo Chau Mi R, bị cáo Chau N trực tiếp dung dao chém 2 nhát vào dùng đầu, dùng tay của bị hại gây thương tích cho bị hại 14%; nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án; bị cáo Chau S2 mặc dù không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, nhưng bị cáo Chau S2 có cầm dao và cùng Chau M1 Ra đi đến nơi bị hại, nên xác định có tham gia cùng bị cáo Chau N, C Ra gây thương tích cho bị hại, vai trò của bị cáo Chau S2 giữ vai trò giúp sức, nên mức hình phạt thấp hơn so với 02 bị cáo Chau N, Chau Mi Ra; do đó mức hình phạt mà cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội gây ra.
- Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 và bị hại đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại 45.000.000đ; bị hại Chau Thonl xác định đã nhận trực tiếp số tiền 45.000.000đ từ các bị cáo đưa tại phiên tòa và bị hại Chau T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, nên Hội đồng xét xử có cơ sở để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mỗi bị cáo 06 tháng tù, như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa và luật cứ của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo.
- Ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận tại phiên tòa phúc thẩm của các bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 và bị hại Chau T2 đã nhận được số tiền 45.000.000đ từ các bị cáo.
[8] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9] Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chau N, C Ra và Chau S2 về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Tuyên bố các bị cáo Chau N, Chau M1 Ra và Chau S2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Chau N: 02 (hai) năm tù; bị cáo Chau M1 Ra 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của hai bị cáo được tính kể từ ngày các bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Chau S2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Chau N, Chau Mi R, Chau S2 và bị hại Chau T2 đã nhận được số tiền 45.000.000đ (tại phiên tòa), nên các bị cáo Chau N, Chau M1 Ra và Chau S2 còn phải bồi thường thêm cho bị hại Chau Thonl số tiền 35.000.000đ.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng theo biên lai thu số 0004768 ngày 19/4/2024 và số tiền 5.000.000 đồng theo biên lai thu số 0004807 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên để đảm bảo thi hành án cho bị hại.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Chau N, Chau M1 Ra và Chau S2 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 200/2024/HS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 200/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Chau N- R- S cố ý gây thương tích
