|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 200/2024/DS-ST.
Ngày: 18-11-2024
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng
ủy quyền, hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thắm
Bà Nguyễn Kim Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 296/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Gia N, sinh năm: 1986; đăng ký thường trú: Tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Đình N1, sinh năm: 1968; đăng ký thường trú: Số D, đường L, tổ H, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 07/5/2024, ngày 07/11/2024) – vắng mặt, có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1992; đăng ký thường trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Hà Thị T1, sinh năm: 1977; đăng ký thường trú: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp của bà T1: Ông Đậu Văn L, sinh năm 1972; đăng ký thường trú: Khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 09/7/2024) – vắng mặt, có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Lê Văn H, sinh năm: 1978; đăng ký thường trú: Xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp ông H: Ông Đậu Văn L, sinh năm: 1972; đăng ký thường trú: Khu phố T, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 16/7/2024) – vắng mặt, có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Ông Hà Văn T2, sinh năm: 1965; đăng ký thường trú: Thôn S, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa – vắng mặt;
4. Bà Hồ Thị L1, sinh năm: 1995; đăng ký thường trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.
5. Văn phòng C1, địa chỉ: Đường N, Khu Đô thị V, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp của Văn phòng C1: Ông Phan Ngọc S – Trưởng Văn phòng, là người đại diện theo pháp luật – vắng mặt, có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong Đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, đơn thay đổi và bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 21/8/2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Gia N và người đại diện hợp pháp trình bày:
Ông Hà Văn T có nhu cầu vay tiền nên có hỏi vay tiền của ông N. Hai bên thỏa thuận: Ông N cho ông T vay 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng), ông Thắng thế chấp thửa đất số 3282 và phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T, thời hạn vay là 03 tháng, lãi suất 3%/tháng.
Sau khi thống nhất thỏa thuận các nội dung trên, ngày 25/10/2019, ông T và ông N ký kết “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, nội dung: Ông T chuyển nhượng cho ông N thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15, diện tích 150m², tọa lạc phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, được Văn phòng C1 công chứng số: 011714, quyển số: 10 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/10/2019.
Do ông N chưa chuẩn bị đủ tiền cho vay nên đến ngày 11/12/2019, ông N và ông T mới ký “Hợp đồng thế chấp tài sản”. Nội dung: Ông Thắng thế C cho ông N thửa đất số 3282 để vay 1.300.000.000 đồng. Sau đó, ông N giao cho ông T 1.300.000.000 đồng bằng tiền mặt. Ông T ký tên và in dấu vân tay vào “Hợp
đồng thế chấp tài sản” ngày 11/12/2019. Hợp đồng này chỉ có hai bên ký tên, in dấu vân tay, không công chứng, chứng thực chữ ký.
Thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số CH118141, số vào sổ cấp GCN: CS35395 ngày 18/5/2017, cập nhật ngày 06/9/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Hà Thị T1 đứng tên. Bà T1, ông H ủy quyền cho ông T theo Hợp đồng ủy quyền ngày 11/10/2019, được công chứng tại VPCC B, số công chứng 011043, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD. Hiện bà Hà Thị T1 và chồng là ông Lê Văn H đang quản lý, sử dụng đất. Trên đất có nhà của bà T1, ông H.
Thực hiện hợp đồng vay tiền, ông T đã trả cho ông N 850.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh, có khi ông T trả bằng tiền mặt, có khi chuyển khoản. Việc giao nhận tiền gốc, tiền lãi không có lập thành văn bản. Do thời gian đã lâu nên ông N không nhớ ông T đã trả bao nhiêu tiền lãi. Đến ngày 14/6/2023, ông T và ông N đối chiếu công nợ. Ông T và ông N lập văn bản ngày 14/6/2023 ghi rõ số tiền ông T mượn ông N là 450.000.000 đồng, không lãi suất, thời hạn trả là ngày 04/7/2023. Khi thỏa thuận và lập văn bản ngày 14/6/2023 có bà L1 (vợ ông T) tham gia và ký tên, in dấu vân tay tại mục “Bên mượn tiền”. Tuy nhiên, ông T, bà L1 không trả tiền theo đúng thời hạn đã thỏa thuận. Cha ruột ông T là Hà Văn T2 nhiều lần hứa hẹn trả tiền thay cho ông T nhưng cũng không thực hiện.
Tại đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, ông N yêu cầu Tòa án buộc ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 25/10/2019, sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N.
Quá trình giải quyết vụ án, nhận thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết tại Văn phòng C1 là giả tạo nhằm che đậy là hợp đồng vay tiền giữa ông N và ông T nên ông N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T1 và ông H thống nhất các nội dung như sau:
- Bà Hà Thị T1 và ông Lê Văn H có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Gia N số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Hai bên đã thực hiện xong.
- Ông Nguyễn Gia N đồng ý đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 25/10/2019 giữa ông N và ông T;
- Ông Nguyễn Gia N có trách nhiệm trả bản chính GCNQSDĐ số CH118141, số vào sổ cấp GCN: CS35395 ngày 18/5/2017, cập nhật ngày 10/10/2017 cho bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H. Hai bên đã thực hiện xong.
Ngày 21/8/2024, ông N nộp đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/10/2019, số công chứng: 011714, quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương giữa bên chuyển nhượng Hà Văn T (là người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H) và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Gia N đối với thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương;
Đồng thời, ông N khởi kiện bổ sung: Yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Văn T, bà Hồ Thị L1 và ông Hồ Văn T3 liên đới trả cho ông N số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Ông N không yêu cầu tính tiền lãi phát sinh.
Ngày 13/9/2024, ông N rút yêu cầu khởi kiện bổ sung đối với ông Hồ Văn T3, bà Hồ Thị L1, chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Văn T trả 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.
2. Đối với bị đơn ông Hà Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của ông T. Kết quả xác minh thể hiện ông T đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ nơi chuyển đến và không rõ thời điểm trở về. Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc thụ lý, giải quyết vụ án cho ông T theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H ủy quyền cho ông Đậu Văn L tham gia tố tụng. Ông Đậu Văn L trình bày ý kiến tại các bản tự khai và biên bản hòa giải như sau:
Bà T1 và ông H là vợ chồng. Ông T là cháu ruột của bà T1. Thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương là của bà T1 và ông H. Do có nhu cầu vay tiền nên bà T1, ông H có ủy quyền cho T để làm thủ tục vay tiền. Thực tế bà T1, ông H đang là người quản lý, sử dụng thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15. Trên đất có nhà của vợ chồng bà T1, ông H.
Bà T1, ông H không biết việc ông T chuyển nhượng thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15 cho ông N. Theo bà T1, ông H được biết thì ông T có vay tiền của ông N. Việc hai bên vay mượn số tiền bao nhiêu, đã trả bao nhiêu, còn lại bao nhiêu bà T1, ông H không biết.
Nay ông N khởi kiện yêu cầu ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà T1 và ông H không đồng ý.
Bà T1 đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông T, đề nghị Tòa án buộc ông N trả bản chính GCNQSDĐ cho bà T1 và ông H. Bà T1 và ông H đồng ý trả cho ông N 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Đối với khoản tiền vay còn phải trả giữa ông N và ông T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết, buộc ông T phải trả theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, giữa ông N và bà T1, ông H có thỏa thuận các nội dung như ông N đã trình bày. Bà T1, ông H đã giao cho ông N số tiền 250.000.000 đồng và nhận lại bản chính GCNQSDĐ CH118141, số vào sổ cấp GCN: CS35395 ngày 18/5/2017, cập nhật ngày 10/10/2017.
Ngày 16/8/2024, bà T1 nộp đơn yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 3282 được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 011043, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/10/2019.
3.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hà Văn T2 (cha ruột bị đơn Hà Văn T) và bà Hồ Thị L1 (vợ ông Hà Văn T) không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị T1.
3.3. Văn phòng C1 có văn bản yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Tại Công văn số 181/VPCCBD ngày 10/10/2024, ông Phan Ngọc S – Trưởng Văn phòng C1 trình bày:
Các hợp đồng:
- Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H với bên nhận ủy quyền là ông Hà Văn T đã được công chứng viên Văn phòng C1, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/10/2019;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Gia N và ông Hà Văn T đã được công chứng viên Văn phòng C1 chứng nhận số 011714, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/10/2019.
Tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng và công chứng viên Văn phòng C1 thực hiện công chứng thì các hồ sơ công chứng nêu trên hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật. Việc công chứng được thực hiện đúng với thủ tục và quy trình công chứng theo quy định của Luật công chứng năm 2014 và quy định của Văn phòng C1. Vì vậy Văn phòng C1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của bà Hà Thị T1, trừ khi Tòa án có căn cứ xác định các giao dịch trên là giả tạo để che đậy cho giao dịch khác.
4. Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, nguyên đơn và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/10/2019, số công chứng: 011714, quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương giữa bên chuyển nhượng Hà Văn T (là người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H) và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Gia N đối với thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; buộc ông Hà Văn T trả số tiền 200.000.000 đồng cho ông N; đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bà L1, ông T2 phải liên đới trả số tiền 200.000.000 đồng; chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Hà Thị T1 về việc yêu cầu tuyên hủy
hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 3282 được công chứng tại VPCC B, số công chứng 011043, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/10/2019.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Nguyễn Gia N, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị T1, Lê Văn H và người đại diện hợp pháp của Văn phòng C1 có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Theo kết quả xác minh tại Công an phường T về việc cư trú của ông Hà Văn T, xét thấy việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng không đảm bảo cho người được cấp, tống đạt, thông báo là ông T nhận được thông tin về văn bản được cấp, tống đạt, thông báo. Do đó, Tòa án tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về việc thụ lý vụ án; thời gian, địa điểm mở họp phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thời gian, địa điểm mở phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, ông T không có mặt theo thời gian đã được thông báo.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Nguyễn Gia N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Văn T tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 25/10/2019, số công chứng: 011714, quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 để sang tên trên GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Gia N. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/10/2019 giữa ông T (là người đại diện theo ủy quyền của bà T1, ông H) và ông N là giả tạo nhằm che đậy cho hợp đồng vay tài sản giữa ông N và ông T. Số tiền ông N cho ông T vay là 1.300.000.000 đồng, ông T đã trả 850.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị T1, Lê Văn H đã trả thay cho ông T số tiền 250.000.000 đồng. Số tiền ông T còn nợ lại ông N là 200.000.000 đồng. Do đó, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/10/2019. Đồng thời, ông N khởi kiện bổ sung: Yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Văn T, bà Hồ Thị L1 và ông Hồ Văn T3 liên đới trả cho ông N số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Ông N không yêu cầu tính tiền lãi phát sinh. Ngày 13/9/2024, ông N rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Hồ Văn T3, bà Hồ Thị L1. Ông N không có ý kiến đối với yêu cầu độc lập của bà Hà Thị T1.
Bị đơn không có yêu cầu phản tố, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không cung cấp tài liệu, chứng cứ về vụ việc cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với ý kiến của nguyên đơn về việc tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông T. Bà T1 và ông H đã trả cho ông N 250.000.000 đồng và đã được ông N giao trả bản chính GCNQSDĐ số CH118141, số vào sổ cấp GCN: CS35395 ngày 18/5/2017, cập nhật ngày 10/10/2017. Bà T1 nộp đơn yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 3282 giữa bà T1 và ông T.
[3] Từ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, xét thấy:
Nguyên đơn Nguyễn Gia N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị T1, Lê Văn H thống nhất trình bày ông N và ông T ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/10/2019 về việc chuyển nhượng thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15 là giả tạo nhằm che đậy cho hợp đồng vay tiền giữa ông N và ông T. Lời trình bày này phù hợp với Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 11/12/2019 (nội dung: Ông Thắng thế C cho ông N thửa đất số 3282 để vay số tiền 1.300.000.000 đồng) và giấy mượn tiền ngày 14/6/2023.
Kiểm tra hiện trạng thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15: Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 của bà T1, ông H. Hiện gia đình bà T1, ông H đang sinh sống tại nhà đất này.
Như vậy, có cơ sở xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, ông T là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền giữa hai bên.
Khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong trường hợp này, xét cần tuyên hợp đồng theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và ông T là vô hiệu nên không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1, ông H đã thống nhất ý kiến về việc giải quyết một phần hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Bà T1, ông H trả cho ông N 250.000.000 đồng; ông N trả cho bà T1 bản chính GCNQSDĐ. Hai bên đã tự thực hiện xong
thỏa thuận này. Xét việc thỏa thuận và tự thực hiện thỏa thuận giữa ông N và bà T1, ông H không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người vắng mặt nên Hội đồng xét xử chấp nhập.
[5] Đối với hợp đồng vay tài sản giữa ông N và ông T: Theo hợp đồng thế chấp tài sản ngày 11/12/2019 và giấy mượn tiền ngày 14/6/2023 có cơ sở xác định: Số tiền ông N cho ông T vay là 1.300.000.000 đồng, ông T đã trả một phần, đến ngày 14/6/2023 còn lại 450.000.000 đồng. Ngày 16/8/2025, bà T1 đã trả thay cho ông T số tiền 250.000.000 đồng. Như vậy, số tiền nợ gốc ông T còn thiếu là 200.000.000 đồng.
Ngày 21/8/2024, ông N khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Văn T, bà Hồ Thị L1 và ông Hồ Văn T3 (cha ông T) liên đới trả cho ông N số tiền 200.000.000 đồng. Ngày 13/9/2024, ông N rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Hồ Văn T3, bà Hồ Thị L1, chỉ yêu cầu Tòa án buộc ông Hà Văn T trả 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.
Xét, yêu cầu buộc ông T trả 200.000.000 đồng phù hợp với các chứng cứ, tình tiết đã phân tích trên nên có cơ sở chấp nhập.
Xét, việc rút yêu cầu khởi kiện bổ sung đối với bà L1 và ông T3 của ông N là sự tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông N đã rút.
[6] Xét yêu cầu độc lập của bà Hà Thị T1 về việc hủy hợp đồng ủy quyền giữa bà T1 và ông T: Bà T1, ông H ký hợp đồng ủy quyền đã được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 011043, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/10/2019. Bà T1, ông H ủy quyền cho ông T nhằm mục đích vay tiền ngân hàng. Tuy nhiên, ông T với tư cách là người được ủy quyền của bà T1, ông H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là trái với ý chí của người ủy quyền. Nay bà T1 yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền giữa bà T1 và ông T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 569 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[7] Bà T1, ông H trả thay ông T số tiền 250.000.000 đồng và không yêu cầu ông T có trách nhiệm trả lại số tiền này nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết trong vụ án này. Bà T1, ông H có quyền khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền 250.000.000 đồng bằng vụ án khác.
[8] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Ông Hà Văn T phải chịu theo quy định.
[10] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá: Ông Nguyễn Gia N phải chịu 50%, ông Hà Văn T phải chịu 50%.
[11] Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, do đó lệ phí thông báo này do nguyên đơn chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 117, Điều 122, Điều 124, Điều 131, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 569 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 147, Điều 161, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn ông Nguyễn Gia N đối với bị đơn ông Hà Văn T về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng Hà Văn T (là người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H) và bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Gia N về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương được Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 25/10/2019, số công chứng: 011714, quyển số 10 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.
Ông Nguyễn Gia N có trách nhiệm trả cho bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH118141, số vào sổ cấp GCN: CS35395 ngày 18/5/2017, cập nhật ngày 10/10/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Hà Thị T1 đứng tên đối với thửa đất số 3282, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (đã thực hiện xong).
Buộc ông Hà Văn T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Gia N số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Gia N cho đến khi thi hành án xong, ông Hà Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị T1 đối với bị đơn ông Hà Văn T về việc: “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền".
Tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền giữa bên ủy quyền bà Hà Thị T1, ông Lê Văn H với bên nhận ủy quyền ông Hà Văn T được Văn phòng C1, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 11/10/2019, số công chứng: 011043, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn Nguyễn Gia N đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị L1, ông Hà Văn T2.
4. Về án phí:
Ông Hà Văn T phải chịu phải chịu 5.600.000 đồng (năm triệu, sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Gia N số tiền 5.600.000 đồng (năm triệu, sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003244, ngày 24/5/2024; số 0000873, ngày 04/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Hoàn trả cho bà Hà Thị T1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000819, ngày 16/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ông Nguyễn Gia N phải chịu 1.502.421 đồng (một triệu, năm trăm lẻ hai nghìn, bốn trăm hai mươi mốt đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đã thanh toán xong.
Ông Hà Văn T phải chịu 1.502.421 đồng (một triệu, năm trăm lẻ hai nghìn, bốn trăm hai mươi mốt đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ông Nguyễn Gia N đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên ông Hà Văn T có trách nhiệm trả lại 1.502.421 đồng (một triệu, năm trăm lẻ hai nghìn, bốn trăm hai mươi mốt đồng) cho ông Nguyễn Gia N.
5. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ông Nguyễn Gia N phải chịu 5.551.782 đồng (năm triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn, bảy trăm tám mươi hai đồng), đã thanh toán xong.
6. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
7. Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số Số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |
Bản án số 200/2024/DS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 200/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
