Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 200/2024/HSST

Ngày: 27/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Toan.
  2. Ông Nguyễn Bá Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thy Thy - Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Nhi – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 191/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

ĐOÀN VƯƠNG (tên gọi khác: Bé D); Sinh ngày 03/9/1992 tại Gia Lai.

Nơi cư trú: Số A đường N, Tổ H, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. CCCD: [...].

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo.

Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Cha: Đoàn Trung Đ - Sinh năm 1965 (đã chết).

Mẹ: Nguyễn Thị Minh T - Sinh năm 1968; hiện trú tại số A đường N, Tổ H, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có 02 anh, em ruột (sinh năm 1990 và 1999).

Vợ (đã ly hôn): Lê Thị Á - Sinh năm 1998.

Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018; hiện ở với mẹ tại Tổ G, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Tiền án, tiền sự: Không.

* Về nhân thân:

  • + Ngày 20/12/2005, bị Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai quyết định đưa vào Trường G (tại xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng), về hành vi Trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng; đến ngày 25/12/2007 chấp hành xong.
  • + Tại Bản án số 32/2011/HSST ngày 05/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
  • + Tại Bản án số 74/2011/HSST ngày 13/5/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tổng hợp hình phạt của 02 Bản án nêu trên là 07 năm tù; chấp hành án tại Trại giam G1 – Bộ C; đến ngày 15/9/2016 chấp hành xong.

Bị cáo Đoàn V bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 09/6/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn V sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian cuối năm 2020. Qua các mối quan hệ xã hội, V quen biết Hồ Phi L (sinh năm 2001; trú hẻm S đường T, Thôn D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai) là người có bán ma tuý. Vào lúc 19 giờ ngày 01/6/2024, V sử dụng ứng dụng Messenger (tài khoản tên “Vương Bé Đoàn”) gọi cho L (tài khoản tên “P”) hỏi mua ma túy đá với giá 1.500.000 đồng (trong đó chuyển khoản số tiền 500.000 đồng và trả tiền mặt 1.000.000 đồng), thì L đồng ý và nhắn tin số tài khoản Ngân hàng cho V; đồng thời, L hẹn gặp nhau tại khu vực đầu hẻm S đường T thuộc Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vào lúc 19 giờ 38 phút ngày 01/6/2024, V sử dụng ứng dụng Internet Banking, chuyển số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số 20252513256789 của V tại Ngân hàng M đến tài khoản số 0010151003201 của L tại Ngân hàng M. Sau đó, V đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch và biển số xe) chở đi từ nhà tại số A đường N, Tổ H, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai đến điểm hẹn chờ L. Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 01/6/2024, Hồ Phi L đem theo 06 gói nilon chứa ma túy, đi bộ từ nhà tại hẻm S đường T, Thôn D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai đến bán cho V và V trả cho L số tiền 1.000.000 đồng. Mua được ma túy, V cất giấu trong 01 ví da màu đen rồi bỏ vào 01 túi xách da màu nâu đeo trên người, mục đích khi cần thì lấy sử dụng. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, V đón xe ôm của một người đàn ông khác (không rõ nhân thân, lai lịch và biển số xe) chở đến phòng trọ của anh Ưng Văn N (sinh năm 1995; là bạn bè ngoài xã hội với V) tại phòng số 01, nhà trọ không số hẻm N, Tổ B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 21 giờ 50 phút ngày 01/6/2024, khi V đang ở tại phòng trọ thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Công an thành phố P phối hợp Công an phường Y bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng, gồm: 01 túi xách da màu nâu bên trong có 01 ví da màu đen cất giấu 06 gói nilon đều chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã được niêm phong theo quy định); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984 04800 00692 16519) và 01 thẻ căn cước công dân tên Đoàn Vương .

Tiến hành xét nghiệm ma túy xác định: Đoàn Vương dương tính với chất ma túy MET.

Tại bản Kết luận giám định số 569/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của phòng K1 - Công an tỉnh G, kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng, dạng tinh thể trong 06 (sáu) gói nilon trong bì công văn gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,7828 gam”.

Đối với Hồ Phi L: Quá trình điều tra, xác định: Ngoài việc L đã bán ma túy cho Đoàn V thì L còn thực hiện hành vi bán ma túy cho một số đối tượng khác; vào ngày 10/6/2024, L đã bị bắt, khởi tố, tạm giam và xử lý tại một vụ án khác.

Đối với túi xách, ví, chiếc điện thoại di động (kèm sim số) và thẻ căn cước công dân đều là của bị cáo Đoàn V; bị cáo đã sử dụng túi xách và ví để cất giấu ma túy; sử dụng chiếc điện thoại di động để liên lạc mua ma túy; còn thẻ căn cước công dân là của cá nhân bị cáo V, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.

* Vật chứng của vụ án, gồm:

  • + Chất ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói trong 01 bì công văn niêm phong ghi “Số 569/PC09, ngày 10 tháng 6 năm 2024” có dấu niêm phong của phòng K1 - Công an tỉnh G;
  • + 01 túi xách da màu nâu;
  • + 01 ví da màu đen;
  • + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984 04800 00692 16519).

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku ra Quyết định đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chuyển toàn bộ vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Pleiku để quản lý, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận giám định số 569/KL - KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh G nói trên.

Tại bản cáo trạng số 205/CT- VKS ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã truy tố đối với bị cáo Đoàn V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi của bị cáo Đoàn V và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đoàn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn V mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
  • Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn niêm phong ghi số 569/PC09 ngày 10/6/2024 đã được niêm phong của Phòng K1 công an tỉnh G.
  • - Buộc bị cáo Đoàn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Đoàn V nói lời nói sau cùng: Xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn V tại phiên tòa ngày hôm nay hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ, các tài liệu đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Đoàn V sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian cuối năm 2020. Vào ngày 01/6/2024, tại khu vực đầu hẻm S đường T thuộc Thôn B, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai, V đã mua của Hồ Phi L (sinh năm 2001; trú hẻm S đường T, Thôn D, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai) 06 gói nilon chứa ma túy loại Methamphetamine với giá 1.500.000 đồng rồi cất giấu trong 01 ví da màu đen và bỏ vào 01 túi xách da màu nâu để khi cần thì lấy sử dụng. Đến 21 giờ 50 phút ngày 01/6/2024, khi V đang ở tại phòng số 01, nhà trọ không số hẻm N, Tổ B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai (là phòng trọ của anh Ung Văn N), thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Công an thành phố P phối hợp Công an phường Y bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng, gồm: 01 túi xách da màu nâu bên trong có 01 ví da màu đen cất giấu 06 gói nilon đều chứa chất màu trắng dạng tinh thể; 01 chiếc điện thoại di động (kèm sim số) và 01 thẻ căn cước công dân.

Qua giám định, xác định: Chất màu trắng dạng tinh thể trong 06 gói nilon mà bị cáo Đoàn Vương tàng T1 với mục đích để sử dụng là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,7828 gam

Vì vậy đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Đoàn V đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, vì vậy cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của bị cáo là trái pháp luật, bị xã hội lên án gay gắt và pháp luật cũng trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội phạm này, nhưng chỉ vì sống buông thả không có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân nên bị cáo đã bất chấp tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Tổng trọng lượng chất ma túy mà bị cáo mua để tàng trữ là 0,7828gam ma túy loại Methamphetamine, bị cáo với tuổi đời còn trẻ lẽ ra bị cáo phải phấn đấu tu dưỡng rèn luyện bản, nhưng bị cáo lại sớm sa ngã vì thích đua đòi, hành vi phạm tội của bị cáo đã bị bắt phạm tội quả tang.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Ngoài ra bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt về tội: “Gây rối trật rự công cộng” và tội “Cướp tài sản” nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội, vì vậy cần thiết phải lên cho bị cáo một mức hình phạt tù thích đáng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám trong 01 bì công văn niêm phong ghi số “Số 569/PC09, ngày 10 tháng 6 năm 2024” đã được niêm phong của Phòng K1 công an tỉnh G.

[7] Đối với anh Ưng Văn N là chủ nhà trọ không số hẻm Nguyễn Bỉnh K, Tổ B, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai: Việc V đến phòng số 01 của nhà trọ chơi và có cất giấu ma túy thì anh N không biết; qua xét nghiệm, xác định anh N âm tính với các chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.

[8] Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đoàn V

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Đoàn V: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự

    Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn niêm phong ghi số 569/PC09, ngày 10 tháng 6 năm 2024 đã được niêm phong của Phòng K1 công an tỉnh G.

    • - 01 (một) túi xách da màu nâu (cũ, đã qua sử dụng).
    • - 01(một) ví da màu đen (cũ, đã qua sử dụng).

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus kèm thẻ sim (mặt sau có dãy số 8984 04800 00692 16519) (Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong).

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an T và Chi cục thi hành án dân sự TP . Pleiku.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Đoàn V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

    Căn cứ các Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

    Báo cho bị cáo Đoàn V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 27/9/2024) Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -VKSND TP. Pleiku;
  • -Tòa án tỉnh Gia Lai;
  • -Chi cục THA dân sự TP .;
  • -Các bị cáo;
  • -Những người tham gia TT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Xûn H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HSST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 200/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger