Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 200/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lan.
  2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 178/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thân Văn B, sinh năm 1988;

Quê quán: huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Nơi thường trú: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con bà Thân Thị Ơ, sinh năm 1953; Bị cáo có vợ là Thân Thị M, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và có 2 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 316 ngày 25/11/2013 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; đã chấp hành xong bản án được xoá án tích;

- Bản án hình sự sơ thẩm số 256 ngày 7/11/2016 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; đã chấp hành xong bản án được xoá án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

- Anh Tạ Đình Q, sinh năm 1988 (vắng mặt).

1

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Lưu Thị H, sinh năm 1953 (vắng mặt).

Địa chỉ: Lô A, đường T, khu đô thị P, thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 5/2024 đến tháng 7/2024, Thân Văn B, sinh năm 1988, trú tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 26/05/2024, Thân Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA SIRIUS màu đen, biển số 98G1-010.58 đi từ nhà đến thôn T, xã D, thành phố B mục đích để trộm cắp tài sản. Khi B đi đến khu vực trước cửa nhà bà Lưu Thị H, sinh năm 1953 ở lô A, đường T, xã D, thành phố B thì nhìn thấy trên vỉa hè trước cửa nhà có để nhiều loại cây cảnh nên nảy sinh ý định trộm cắp. B đỗ xe cách đó khoảng 10m sau đó đi bộ đến vỉa hè dùng tay nhấc 01 cây T la hán ra khỏi chậu, mang để lên xe. Cây Tùng la hán này có hai nhánh lớn, đường kính gốc là 4cm; đường kính tán cây là 1,15m; cao 56cm được bà H mua và trồng từ năm 2017. Sau đó, B điều khiển xe máy chở cây T la hán đi về nhà và trồng trên sân phía trước tầng 3 nhà B.

Ngày 03/7/2024, bà H có đơn trình báo bị trộm cắp 01 cây Tùng la hán và giao nộp 01 đoạn video ghi hình ảnh đối tượng trộm cắp.

Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐG ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 cây tùng la hán đặc điểm thân cây có hai nhánh lớn, đường kính gốc là 4cm; đường kính tán cây là 1,15m; cao 56cm, cây mua từ năm 2017 có trị giá tại thời điểm ngày 26/5/2024 là 2.700.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 01/7/2024, Thân Văn B điều khiển xe mô tô HONDA SIRIUS biển số 98G1-010.58 đi từ nhà đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Bắc gửi xe ở bãi đỗ xe rồi đi bộ đến toà nhà G. Khi B đi qua hành lang tầng 1 thì nhìn thấy anh Tạ Đình Q, sinh năm 1997, trú tại thôn N, xã N, huyện L đang nằm nghỉ ở dãy ghế đối diện phòng G-118, mặt về phía tường; bên dưới ghế có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax vỏ màu trắng, ốp điện thoại trong suốt (loại 128G, lắp sim số 0394.826.823) đang cắm sạc pin. Bắc nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nên đi đến ngồi gần chỗ anh Q đang ngủ. Quan sát xung quanh không có ai, B đeo khẩu trang, cúi người xuống dùng tay trái cầm điện thoại, tay phải rút dây sạc khỏi chiếc điện thoại rồi cất giấu vào túi quần phía sau bên trái đang mặc. Sau đó, B đi ra bãi đỗ xe lấy xe mô tô đi về và cất giấu chiếc điện thoại vừa trộm cắp được trong tủ quần áo tại phòng ngủ tầng 2.

2

Ngày 01/7/2024, anh Tạ Đình Q có đơn trình báo về việc bị trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax.

Khoảng 12 giờ ngày 02/7/2024, Thân Văn B đi đến bãi gửi xe ở Bệnh viện đa khoa tỉnh B mục đích trộm cắp tài sản thì bị Công an thành phố B kiểm soát, lập biên bản thu giữ 01 túi đeo bên trong có: Số tiền 2.550.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Note 9, vỏ màu đen gắn sim số 0379.382.666; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, vỏ màu đen gắn sim số 0336.353.443; 01 đăng ký xe biển số 98G1-010.58 mang tên Trần Văn D, địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thân Văn B.

Ngoài ra còn tạm giữ của B 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 98G1-010.58.

Tại Cơ quan điều tra, Thân Văn B đầu thú và khai nhận trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của anh Tạ Đình Q tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B ngày 01/7/2024.

Ngày 02/7/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Thân Văn B tại thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thu giữ:

+ T1 tại tủ quần áo trên tầng 2: 01 chiếc điện thoại Iphone nhãn hiệu Iphone 12 Promax vỏ màu trắng, có ốp điện thoại trong suốt.

+ T1 tại sân phía trước tầng 3: 01 cây Tùng la hán có 2 nhánh, đường kính gốc 4cm, đường kính tán 1,15m, cao 56cm.

Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐG ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • 01 điện thoại Iphone 12 Promax 128GB, mua cũ tháng 2 năm 2024 trị giá tại thời điểm ngày 1/7/2024 là 11.000.000 đồng;
  • 01 ốp điện thoại bằng nhựa trong suốt mua tháng 2/2024 đã qua sử dụng trị giá tại thời điểm ngày 1/7/2024 là 10.000 đồng;
  • Chi phí làm lại 01 thẻ sim điện thoại của nhà mạng Viettel số thuê bao 0394.826.xxx tại thời điểm ngày 1/7/2024 là 35.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là 11.045.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định file video do bà Lưu Thị H giao nộp và các file video trích xuất tại camera an ninh của Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Kết luận giám định số 1780/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh 05 (năm) file video lưu trữ trong 02 (hai) đĩa DVD-R gửi giám định.
  2. Trích xuất được 34 (ba mươi bốn) hình ảnh liên quan đến vụ việc trong các file video gửi đi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho bị cáo B xem các đoạn video đã thu giữ. Kết quả, B xác định có hình ảnh Bắc mặc áo khoác dài màu đen, cúi người lấy điện thoại dưới chân ghế ghỗ tại vị trí đối diện phòng G-118 Bệnh viện đa khoa tỉnh B và có hình ảnh Bắc trộm cắp cây T la hán trước cửa nhà bà Lưu Thị H.

3

Ngày 11/7/2024, Cơ quan điều tra đã cho bị cáo B xác định địa điểm các vụ đã trộm cắp và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, B xác định địa điểm trộm cắp cây T la hán tại trước cửa nhà bà Lưu Thị H và địa điểm trộm cắp chiếc điện thoại trước cửa phòng G118 Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Bị cáo B thực hiện thuần thục động tác trộm cắp cây T la hán và chiếc điện thoại như đã khai.

Cơ quan điều tra đã cho bà Lưu Thị H nhận dạng ảnh cây T la hán đã thu giữ tại nhà B khi khám xét. Kết quả bà H nhận ra và xác định chính là cây T la hán của gia đình bà H đã bị trộm cắp.

Cơ quan điều tra đã cho anh Tạ Đình Q kiểm tra chiếc điện thoại Iphone 12 Promax đã thu giữ tại nhà B khi khám xét. Kết quả, anh Q cung cấp mật khẩu 167479 thì mở được khoá màn hình điện thoại; kiểm tra tài khoản Zalo có tên “Đình Quang” đăng ký bằng số điện thoại 0394.826.xxx có hình ảnh của anh Q; mục danh bạ lưu các số điện thoại người thân. Anh Q xác định là chiếc điện thoại bị trộm cắp ngày 01/7/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B.

Cơ quan điều tra đã cho bị cáo B nhận dạng chiếc điện thoại đã thu giữ khi khám xét tại nhà B. Kết quả Bắc xác định chiếc điện thoại do Cơ quan điều tra thu giữ chính là chiếc điện thoại mà B đã trộm cắp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B vào ngày 01/7/2024

Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thân Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Thân Văn B từ 10 tháng đến 15 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 02/07/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 98G1-010.58 và 01 đăng ký xe biển số 98G1-010.58.

+ Trả lại bị cáo số tiền 2.550.000 đồng đựng trong 01 phong bì đã niêm phong, 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Note 9, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thân Văn B nhưng cần tạm giữ số tiền 2.550.000 đồng đựng trong 01 phong bì đã niêm phong để đảm bảo thi hành án.

4

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai của bị hại nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/6/2024, Thân Văn B trộm cắp 01 cây T la hán trị giá 2.700.000 đồng của bà Lưu Thị H để tại vỉa hè trước cửa nhà tại lô A, đường T, xã D, thành phố B sau đó đem về nhà trồng. Ngày 01/7/2024, Thân Văn B trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax trị giá 11.045.000 đồng của anh Tạ Đình Q đang cắm sạc phin tại gầm ghế gỗ hành lang tầng 1 toà nhà G Bệnh viện đa khoa tỉnh B sau đó đem về nhà cất giấu. Tổng trị giá tài sản của 2 vụ trộm cắp là 13.745.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh trên và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân bị cáo đã lén lút trộm cắp tổng giá trị tài sản là 13.745.000 đồng của các bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã

5

2 lần bị xét xử hình sự về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học, vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật. .

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 2 lần bị xét xử hình sự về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo thực hiện 2 vụ trộm cắp tài sản nên chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện đầu thú, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 98G1-010.58 và 01 đăng ký xe biển số 98G1-010.58 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Trả lại bị cáo số tiền 2.550.000 đồng đựng trong 01 phong bì đã niêm phong, 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Note 9, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thân Văn B do đều không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ số tiền 2.550.000 đồng đựng trong 01 phong bì đã niêm phong để đảm bảo thi hành án.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3

6

Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử phạt bị cáo Thân Văn B 01(một) năm 03(ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày 02/07/2024.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 98G1-010.58 và 01 đăng ký xe biển số 98G1-010.58 mang tên Trần Văn D.

- Trả lại bị cáo số tiền 2.550.000 đồng đựng trong 01 phong bì đã niêm phong, 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Note 9, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS, vỏ màu đen đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thân Văn B nhưng cần tạm giữ số tiền 2.550.000 đồng đựng trong 01 phong bì đã niêm phong để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Tân Liễu, h.Yên Dũng, Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Số: 44/2024/TB-TA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bắc Giang, ngày 15 tháng 10 năm 2024

THÔNG BÁO

7

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang do có lỗi chính tả, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

1. Về nội dung tại dòng 15-16 từ trên xuống dưới của trang 06 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “...nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “……nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.”.

2. Về nội dung tại dòng 5-6 từ trên xuống dưới của trang 07 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Tân Liễu, h.Yên Dũng, Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 200/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thân Văn B - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger