|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 200/2024/DS-ST;
Ngày: 25 - 9 - 2024.
Về việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Lực;
Ông Lê Thành Thạnh Tiến;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 158/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty T2 (JIVF).
Địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, số G N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Narita C – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Việt N – sinh năm 1984, chức vụ Phó Bộ phận quản lý công nợ (theo Giấy ủy quyền số 15/2024/UQ-JIVF ngày 22/4/2024);
Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T – sinh ngày 09/10/1980, chức vụ Nhân viên JIVF (theo Giấy ủy quyền số 734/2024/UQ-JIVF-LM ngày 12/7/2024);
Địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, số G N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
- 2 -
* Bị đơn: Nguyễn Văn S – sinh năm 1981;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, Tỉnh Tiền Giang;
(Anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và tại biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 03/10/2023, anh Nguyễn Văn S ký hợp đồng tín dụng số 930080004613953000 với Công ty T2 JACCS (JIVF) (gọi tắt là Công ty), vay tiền mặt theo hình thức trả góp hàng tháng, cụ thể:
- - Hợp đồng tín dụng số: 930080004613953000;
- - Số tiền vay: 30.000.000 đồng;
- - Mục đích vay: Mua sản phẩm nội thất gia dụng;
- - Lãi suất thỏa thuận theo tháng: 3,4641%/tháng (41,5694%/năm);
- - Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn;
- - Thời hạn vay: 20 tháng, từ ngày 03/10/2023 đến ngày 02/6/2025;
- - Số tiền thanh toán mỗi tháng cả tiền gốc và lãi là 2.115.984 đồng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, kỳ cuối là 1.884.050 đồng.
Theo thỏa thuận, anh S phải thanh toán cho Công ty tiền gốc và lãi mỗi tháng 2.115.984 đồng, thanh toán trong vòng 20 tháng vào ngày 02 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng, bắt đầu từ ngày 31/10/2023. Tuy nhiên, sau khi vay từ ngày 03/10/2023 đến ngày 02/01/2024 anh S chỉ thực hiện trả được 4.235.477 đồng (gồm nợ gốc 2.336.491 đồng, nợ lãi trong hạn 1.871.796 đồng, lãi quá hạn 3.190 đồng và phí quản lý khoản vay 24.000 đồng) thì ngưng luôn đến nay và cố tình lẩn tránh mặc dù Công ty đã nhiều lần yêu cầu trả nợ. Anh S đã vi phạm quy định tại Điều 3, Điều 7, Điều 8 của Hợp đồng tín dụng nêu trên nên Công ty khởi kiện.
Nay Công ty yêu cầu anh S trả số tiền vốn và tiền lãi tính đến ngày 28/5/2024 là 34.119.620 đồng (gồm nợ gốc 27.663.509 đồng, lãi trong hạn 5.677.405 đồng, lãi quá hạn 706.706 đồng và phí quản lý vay 72.000 đồng). Đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh S tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn và các loại phí từ sau ngày Tòa xét xử đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930080004613953000 ký ngày 03/10/2023.
- 3 -
* Bị đơn anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
* Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có gửi bản tự khai và các bảng kê thanh toán, bảng kê tính lãi cập nhật đến ngày 25/9/2024 trình bày yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể: Công ty yêu cầu anh S trả số tiền nợ tính đến ngày 25/9/2024, gồm nợ gốc còn lại 27.663.509 đồng, lãi trong hạn 9.458.081 đồng, lãi quá hạn 2.417.594 đồng và phí quản lý vay 120.000 đồng tổng cộng là 39.659.184 đồng, thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh S1 tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn và các loại phí từ sau ngày 25/9/2024 đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930080004613953000 ký ngày 03/10/2023.
- Bị đơn Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua xem xét lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người đại diện của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa dân sự sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với người đại diện của nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty T2 JACCS khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn S trả số tiền vốn và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là "tranh chấp hợp đồng tín dụng" quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại huyện T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông và được xem xét giải quyết theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (thời điểm hợp đồng tín dụng được ký kết), Bộ luật Dân sự cùng các quy định pháp luật khác có liên quan.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 03/10/2023, anh Nguyễn Văn S ký hợp đồng tín dụng số 930080004613953000 với Công ty T2 JACCS (JIVF) (gọi tắt là Công ty) để vay tiền theo hình thức trả góp hàng tháng (dư nợ giảm dần), số tiền vay: 30.000.000
- 4 -
đồng; mục đích vay: mua sản phẩm nội thất gia dụng; thời hạn vay: 20 tháng; lãi suất cho vay: 3,4641%/tháng (41,5694%/năm); lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Theo thỏa thuận, anh S phải thanh toán cho Công ty tiền gốc và lãi mỗi tháng 2.115.984 đồng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, thanh toán vào ngày 02 hàng tháng trong vòng 20 tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng, bắt đầu từ ngày 31/10/2023, kỳ cuối là 1.884.050 đồng. Tuy nhiên, từ sau khi vay anh chỉ thực hiện trả được 4.235.477 đồng (gồm nợ gốc 2.336.491 đồng, nợ lãi trong hạn 1.871.796 đồng, lãi quá hạn 3.190 đồng và phí quản lý khoản vay 24.000 đồng), còn nợ lại vốn gốc là 27.663.509 đồng thì ngưng luôn đến nay là vi phạm thỏa thuận tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 11 của Hợp đồng tín dụng nêu trên, nên Công ty khởi kiện yêu cầu anh S trả số tiền gốc còn nợ 27.663.509 đồng là phù hợp quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu trả tiền lãi, các khoản phí: Theo Hợp đồng tín dụng số 930080004613953000, mức lãi các bên thỏa thuận là 3,4641%/tháng (41,5694%/năm) tính từ ngày 03/01/2024 đến ngày 25/9/2024 trên số nợ gốc 27.663.509 đồng, gồm lãi trong hạn 9.458.081 đồng, lãi quá hạn 2.417.594 đồng và phí quản lý vay 120.000 đồng.
Xét yêu cầu này là có cơ sở, vì anh S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận nên Công ty đã chuyển toàn bộ số nợ trên sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn đồng thời yêu cầu anh S tất toán nợ trước hạn là phù hợp với Điều 3, Điều 4, Điều 5 của Hợp đồng tín dụng nêu trên mà các bên đã ký kết. Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: "2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”, mức lãi suất mà phía Công ty yêu cầu 3,4641%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất này phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và phù hợp Điều 468 Bộ luật dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi của Công ty, buộc anh S trả cho Công ty số tiền lãi trong hạn 9.458.081 đồng, lãi quá hạn 2.417.594 đồng và phí quản lý vay 120.000 đồng, đồng thời tiếp tục trả lãi theo Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi xong nợ.
[5] Về thời gian trả nợ: Công ty yêu cầu anh S trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu này là có cơ sở, vì phía anh S đã vi phạm hợp đồng tín dụng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty, buộc anh S trả cho Công ty số tiền vốn, lãi và phí nêu trên ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- 5 -
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 JACCS (JIVF).
- - Buộc bị đơn Nguyễn Văn S có nghĩa vụ trả cho Công ty T2 JACCS (JIVF) số tiền vốn gốc 27.663.509 đồng; tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2024 gồm: lãi trong hạn 9.458.081 đồng, lãi quá hạn 2.417.594 đồng và phí quản lý vay 120.000 đồng, tổng cộng là 39.659.184 đồng (ba mươi chín triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn, một trăm tám mươi bốn đồng). Thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Kể từ ngày 26/9/2024, anh Nguyễn Văn S còn phải tiếp tục trả lãi cho Công ty T2 JACCS (JIVF) theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 930080006413953000 ký ngày 03/10/2023 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Anh Nguyễn Văn S phải chịu 1.982.900 đồng (một triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn, chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn lại cho Công ty T2 JACCS số tiền tạm ứng án phí 852.900 đồng (tám trăm, năm mươi hai nghìn, chín trăm đồng) theo biên lai số 0001789 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- 6 -
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Quân |
Bản án số 200/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 200/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
