Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 200/2024/HSST

Ngày: 24/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Bích Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng

2. Ông Nguyễn Văn Tuấn

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Ngân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2024/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

1. TRẦN QUANG N, sinh năm 1998

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: K, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: không xác định, họ tên mẹ: Ngô Thị B (đã chết); Vợ: Phạm Thị Thu H (đã ly hôn); Con: có 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022).

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

2. NGUYÊN THỊ THANH N1, sinh năm 1992

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Trại Cầu cả, xã C, huyện Đ, Hà Nội; Nơi ở: Thôn L, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Nguyễn Văn T, họ tên mẹ: Đào Thị Q; Chồng: Nguyễn Tuấn C (đã ly hôn); Con: có 02 con (đều sinh năm 2016).

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Khoảng 22h 40' ngày 17/6/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện S, thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại địa bàn thôn X, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội, đã phát hiện xe ô tô BKS: 30K - 372.52 do Trần Quang N - sinh năm 1998, trú tại K, xã P, huyện S, Hà Nội điều khiển chở Nguyễn Thị Thanh N1 - sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã T, huyện Đ, Hà Nội ngồi ở ghế phụ. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ trên trần xe tại khu vực ghế lái 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 túi nilong có chứa 03 viên nén màu vàng hình vuông, N khai là ma tuý đang đem đi bán cho đối tượng nghiện. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 21h 00', ngày 12/6/2024, Trần Quang N cùng Nguyễn Thị Thanh N1 đều là đối tượng nghiện ma túy từ nhà đi lên địa bàn thuộc khu vực huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy đem về cùng nhau sử dụng và bán lại để kiếm lời. Khi đến nơi, N gặp một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ cụ thể có tài khoản Zalo “Tĩnh Tâm” mà N đã liên hệ từ trước rồi hỏi mua được 08 viên nén ma túy màu vàng và 01 túi ma túy bên trong chứa 02 chỉ ke với giá 4.500.000 đồng (là tiền của N1 đưa cho N). Sau đó, N và N1 đem số ma túy mua được về nhà rồi cùng nhau sử dụng hết 03 viên ma túy. Số ma tuý còn lại, N và N1 thoả thuận để cùng nhau sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Nếu có người hỏi mua thì N phải thông báo cho N1 biết để N1 cùng đi giao ma tuý.

Đến khoảng 21h 30' ngày 14/6/2024, Nguyễn Kiều T1, sinh ngày 10/10/2008, trú tại thôn B, xã Q, huyện S dùng điện thoại di động gọi từ tài khoản Z “Ng Kieu T2” đến tài khoản Z “Trần Nam” của N đặt vấn đề hỏi mua 02 viên ma túy "kẹo" với giá 1.000.000 đồng/02 viên, N đồng ý rồi một mình điều khiển xe ô tô BKS: 30K - 372.52 đến thôn X, xã Q, huyện S giao ma tuý cho T2. Số tiền 1.000.000 đồng bán ma tuý, N không thông báo cho N1 mà đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến tối ngày 17/6/2024, Nguyễn Kiều T1 tiếp tục gọi điện cho Trần Quang N đặt vấn đề hỏi mua của N 03 viên ma túy “kẹo” với giá 1.500.000 đồng, N đồng ý và lấy 03 viên ma tuý kẹo gói vào tờ giấy màu trắng rồi cất giấu trên trần xe ô tô BKS: 30K - 372.52 điều khiển xe đến thôn L, xã T, huyện Đ, Hà Nội để đón N1 cùng đi bán ma túy cho T1. Khi đến địa phận thôn X, xã Q, huyện S thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S bắt giữ.

Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong nước tiểu của Trần Quang N và Nguyễn Thị Thanh N1 xác định dương tính với M; Nguyễn Kiều Trang âm T3 với ma túy.

Quá trình điều tra, Trần Quang N và Nguyễn Thị Thanh N1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 túi nilong có chứa 03 viên nén màu vàng hình vuông; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám của N; 01 xe ô tô BKS: 30K - 372.52 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xám của N1.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại K, xã P, huyện S, Hà Nội phát hiện và thu giữ 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 4563 ngày 27/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

  • + 03 viên nén hình vuông màu vàng bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 1,185 gam.
  • + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,877 gam.

Cơ quan giám định đã trích 0,285 gam ma túy loại MDMA và 0,030 gam ma túy loại Ketamine để giám định. Số ma túy còn lại hoàn trả Cơ quan điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với xe ô tô BKS: 30K - 372.52, các bị cáo chở nhau đi bán ma túy: Quá trình điều tra làm rõ là của anh Nguyễn Hoàng H1 - sinh năm 1988, trú tại K, xã P, huyện S, Hà Nội. Anh H1 cho N mượn ô tô để đi lại, việc N sử dụng xe ô tô đi bán ma túy anh H1 không biết. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S đã trả xe cho anh H1.

Số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Kiều T1 là đối tượng hỏi mua ma túy của Nam ngày 17/6/2024, sau đó do không có tiền nên T1 không đến điểm hẹn để nhận ma túy như đã thỏa thuận. Đối với số ma túy T1 mua của N ngày 14/6/2024, T1 đã sử dụng hết. Xét nghiệm nước tiểu của Trang âm tính với ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho N và N1 tại khu vực huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 12/6/2024, do N1 và N không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[4]. Tại bản cáo trạng số 162/CT - VKS ngày 04/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Trần Quang N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, truy tố Nguyễn Thị Thanh N1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và kết luận Trần Quang N đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, Nguyễn Thị Thanh N1 đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Trần Quang N);
  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với Nguyễn Thị Thanh N1);
  • - Áp dụng Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • + Xử phạt Trần Quang N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
  • + Xử phạt Nguyễn Thị Thanh N1 từ 24 đến 30 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
  • + Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của Trần Quang N, Giám định viên và cán bộ Công an huyện S.
  • + Tịch thu sung công 01 điện thoại di động thu giữ của Trần Quang N.
  • + Trả lại 01 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Thị Thanh N1 cho Nguyễn Thị Thanh N1.
  • + Buộc bị cáo Trần Quang N truy nộp số tiền 1.000.000 đồng do bán ma túy cho Nguyễn Kiều T1 vào ngày 14/6/2024 mà có.

[5]. Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không kêu oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho mình một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Khoảng 22h 40' ngày 17/6/2024, tại thôn X, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội, Trần Quang N và Nguyễn Thị Thanh N1 có hành vi tàng trữ trái phép 1,185 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích để bán kiếm lời. Cơ quan điều tra còn thu giữ tại nơi ở của Trần Quang N 1,877 gam ma túy loại Ketamine (N và N1 cùng mua từ ngày 12/6/2024) nhằm mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra còn xác định vào ngày 14/6/2024, Trần Quang N một mình bán 03 viên ma túy kẹo cho Nguyễn Kiều T1 để thu lời bất chính 1.000.000 đồng.

Hành vi của Trần Quang N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; Hành vi của Nguyễn Thị Thanh N1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

....;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện, hướng thần có tác hại rất lớn đối với con người và đời sống cộng đồng, làm lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS, làm suy thoái nền tảng đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh một số loại tội phạm khác. Các bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại của các chất ma túy đối với con người cũng như đời sống cộng đồng, nhận thức được hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm và áp dụng hình phạt nghiêm khắc để xử phạt nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo Trần Quang N là người giữ vai trò khởi xướng, trực tiếp giao dịch mua bán ma túy, phạm tội nhiều lần. Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N1 không biết việc N bán ma túy cho Nguyễn Kiều T1 ngày 14/6/2024 nên N1 không phạm tội nhiều lần.

Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

[2]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N1 phạm tội lần đầu, có bố đẻ Nguyễn Văn T được tặng huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, được tặng kỷ niệm chương đã chiến đấu, xây dựng Sư đoàn trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc và hoạt động nghĩa tình đồng đội truyền thống Sư đoàn 347, đạt giải thưởng cá nhân có nhiều đóng góp trong việc duy trì an ninh trật tự khu đô thị nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân các bị cáo là người sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3]. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, các bị cáo khai mua của người đàn ông không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ điều tra làm rõ.

Đối với Nguyễn Kiều T1 là đối tượng hỏi mua ma túy của N, sau đó do không có tiền T1 không đến điểm hẹn để nhận ma túy như đã thỏa thuận. Ngày 14/6/2024, T1 đã sử dụng hết số ma tuý mua của N. Xét nghiệm nước tiểu của Trang âm tính với ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

[4]. Xử lý vật chứng:

  • - 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma tuý (thu giữ của các bị cáo) cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám của N, N sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xám của N1, N1 không sử dụng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo N1.
  • - Đối với 01 xe ô tô BKS: 30K - 372.52 thu giữ của N qua trình điều tra làm rõ là của anh Nguyễn Hoàng H1 - sinh năm: 1988, trú tại K, xã P, huyện S. Anh H1 cho N mượn ô tô để đi lại, việc N sử dụng xe ô tô đi bán ma túy anh H1 không biết. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô cho anh H1 là phù hợp.
  • - Đối với số tiền 1.000.000 đồng N đã bán ma túy cho Nguyễn Kiều T1 ngày 14/6/2024 mà có, N không nói cho N1 biết và đã tiêu xài cá nhân hết cần buộc bị cáo N truy nộp.

[5]. Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[6]. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Điều tra, Công an huyện S, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điểm b Khoản 2 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với Trần Quang N);
  • - Khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với Nguyễn Thị Thanh N1);
  • - Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015;
  • - Điều 106, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử phạt:

  1. Trần Quang N 07 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
  2. Nguyễn Thị Thanh N1 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ma tuý có chữ ký của Trần Quang N2, Giám định viên và cán bộ Công an huyện S.
  • + Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám thu giữ của Trần Quang N
  • + Trả lại Nguyễn Thị Thanh N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu xám.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội).

Buộc bị cáo Trần Quang N truy nộp số tiền 1.000.000 đồng do bán ma túy mà có.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn;
  • - THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Người tham gia tố tụng,
  • - Lưu HS, VP.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Trần Thị Bích Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 200/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger