Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:200/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-9-2024.

V/v tranh chấp “Ly hôn giữa chị

Lộc và anh Kim”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Lê Văn Kiệt.
    2. Bà Nguyễn Thị Nhung.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Yến Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Lễ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 390/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Lợi L, sinh năm 1980 (Có mặt).
    Địa chỉ: 7 P, phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1981(Có mặt).
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
    Nơi làm việc: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3.
    Địa chỉ: B Tết M, phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn ly hôn đề ngày 16 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Trần Thị Lợi L trình bày: Chị L và anh K tự nguyện tìm hiểu kết hôn năm 2000, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010. Thời gian đầu cuộc sống của chị L và anh K hạnh phúc, đến khi sinh chị L sinh con thứ 3 năm 2009 thì chị L và anh K phát sinh mâu thuẫn do anh Kim T quan tâm, chăm sóc vợ và các con dẫn đến chị L và anh K bất đồng ý kiến, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và chị L và anh Kim T1 ra sống riêng từ năm 2014. Chị L cảm thấy tình cảm vợ chồng với anh K không còn, không thể duy trì quan hệ hôn nhân nên yêu cầu được ly hôn với anh K. Chị L và anh K có 03 (ba) con chung Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Ngọc C là anh em sinh đôi năm 2001 đã trưởng thành và Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 23/02/2009 đang sống chung với chị L nên chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung do chị L có việc làm, thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi con. Chị L và anh K không có tài sản và không có nợ chung.

* Tại bảng tự khai ngày 07/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Ngọc K trình bày: Anh K thống nhất về thời gian anh K và chị L xác lập quan hệ hôn nhân, về con, tài sản và nợ chung như chị L trình bày. Con chung Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 23/02/2009 còn nhỏ, đang đi học nên việc chị L yêu cầu ly hôn với anh K sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý, việc học của con. Ngoài ra anh K đang lo phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc chị bị bệnh tâm thần và phải đi làm xa gia đình nên thời gian anh K dành cho gia đình không nhiều mong chị L hiểu, thông cảm cho anh K mà hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng lo cho con và anh K còn thương chị L nên anh K không đồng ý lý hôn theo yêu cầu của chị L. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, anh K đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Đ cho chị L nuôi dưỡng, anh K tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nhưng đề nghị không ghi nhận vào quyết định, bản án. Anh K và chị L không có tài sản và nợ chung.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung theo lập luận nêu tại bài phát biểu. Căn cứ Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị L đối với anh K. Cho chị L ly hôn với anh K; Giao con chung Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 23/02/2009 cho chị L nuôi dưỡng; anh K không cấp dưỡng nuôi con chung do chị L không có yêu cầu. Về tài sản và nợ chung, chị L và anh K trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Căn cứ vào yêu cầu của chị Trần Thị Lợi L về tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Ngọc K quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố Tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh K tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là hôn nhân hợp pháp. Chị L và anh Kim S với nhau hạnh phúc, đến năm 2009 chị L sinh con chung Nguyễn Ngọc Đ thì chị L, anh K phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng ý kiến dẫn đến bất hòa. Nguyên nhân do anh K đi làm xa gia đình nhưng ít về và thiếu sự quan tâm, chăm sóc của anh Kim D cho chị L và con chung làm cho quan hệ hôn nhân của chị L, anh K mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị L, anh K sống ly thân với nhau từ năm 2014 đến nay. Tại phiên tòa chị L xác định không còn thương yêu anh K nên không đồng ý hàn gắn tình cảm với anh K để duy trì quan hệ hôn nhân. Đồng thời khoảng thời gian chị L, anh K sống ly thân đến nay, chị L và anh K vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Cho thấy sự quan tâm, chăm sóc của chị L và anh K dành cho nhau không còn nên không thể duy trì cuộc sống chung. Do đó chị L yêu cầu được ly hôn anh K là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về nuôi con chung: Chị L và anh K có 03 (ba) con chung Nguyễn Ngọc T2 sinh năm 2001, Nguyễn Ngọc C sinh năm 2001 và Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 23/02/2009. Chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung Ngọc Đ, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung do chị L có việc làm có thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi con.

Xét thấy, thời gian chị L và anh K sống ly thân với nhau, con chung Ngọc Đ do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, được đi học, có cuộc sống ổn định và cháu Đ có nguyện vọng sống với chị L. Để ổn định tâm lý, sinh hoạt, nơi ở cho cháu Đ cần giao con chung Ngọc Đ cho chị L nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Đ. Vì vậy, chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Ngọc Đ là có căn cứ và phù hợp qui định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với con chung Nguyễn Ngọc T2 sinh năm 2001, Nguyễn Ngọc C sinh năm 2001 đã trưởng thành, không đặt ra xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Ngọc Đ, chị L có việc làm và thu nhập đủ nuôi con nên chị L chưa có yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản và nợ chung: Chị L và anh K trình bày không có, không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[6] Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với qui định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 273, khoản 4 Điều 147, 150 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Lợi L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Lợi L ly hôn với anh Nguyễn Ngọc K.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 23/02/2009 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con. Anh K không cấp dưỡng nuôi con chung do chị L chưa có yêu cầu.
    Không ai được quyền cản trở anh K thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
  3. Về tài sản và nợ chung: Chị L và anh K trình bày không có, không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị Lợi L phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 06441 ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, như vậy chị L đã nộp xong.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSDND TP. Mỹ Tho, Tiền Giang;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho, Tiền Giang;
  • - UBND Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hô sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 200/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHo ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger