|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 200/2024/HSST Ngày: 19-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Văn Toàn.
2/ Bà Lê Thị Kiều Thu.
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2024/HSST-QĐ ngày 09/9/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim N - Tên gọi khác: M.
- Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1993; Tại: Bình Thuận.
- Nơi thường trú: Thôn P, xã H, huyện H,, tỉnh Bình Thuận. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1954, và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959. Cùng trú tại: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Chồng: Nguyễn Hoài T, sinh năm 1990 (Đã ly hôn năm 2016). Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại Quyết định số 25/QĐ – XPHC ngày 28/5/2024, bị Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
+ Tại bản án số 194/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 Tòa án thành phố P, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, án chưa có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nêu trên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại :
1/ Chị Nguyễn Duy H1, sinh năm 1991; Địa chỉ thường trú: khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
2/Em Huỳnh Thị Bích H2, sinh ngày 25/4/2007; Địa chỉ thường trú: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
* Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
Bà Nguyễn Thị L (Mẹ của em Huỳnh Thị Bích H2), sinh năm 1968; Địa chỉ thường trú: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1988; Địa chỉ thường trú: khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Vũ L1, sinh năm 1992; Địa chỉ thường trú: khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
Bị hại và người đại diện, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 25/02/2024 đến ngày 16/3/2024, Nguyễn Thị Kim N đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 25/02/2024, trong lúc mua hàng tại số A đường Đ, khu phố D, phường X, thành phố P, Nguyễn Thị Kim N thấy chị Nguyễn Duy H1 có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh dương, tại quầy thu tiền. Lợi dụng lúc chị H1 đi vào quầy bán hàng, N lén lút lấy điện thoại của chị H1. Sau đó, N mang đến tiệm điện thoại Thế A tại địa chỉ số A đường T, khu phố F, phường P, thành phố P, và nói với anh Nguyễn thế A chủ tiệm, điện thoại là do N nhặt được và không rõ chủ sở hữu nên bán cho anh Nguyễn Thế A với giá 2.700.000 đồng . Số tiền này N đã tiêu xài hết.
Đến ngày 27/02/2024, Công an phường X mời làm việc, biết điện thoại Iphone 12 Promax trên là tài sản do trộm cắp mà có nên Nguyễn Thế A đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL – HĐĐGTS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:
- 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh dương, loại 128GB, số Imei 356720112140564, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường tại thời điểm định giá 25/02/2024 có giá trị là 9.500.000 đồng.
- 01 ốp lưng nhựa màu tím, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá 25/02/2024 không xác định được giá trị.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại 01 điện thoại cho chị Nguyễn Duy H1, chị H1 đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Anh Nguyễn Thế A yêu cầu Nguyễn Thị Kim N trả lại số tiền 2.700.000 đồng đã mua điện thoại.
Vụ thứ 2:
Vào khoảng 22 giờ ngày 16/3/2024, Nguyễn Thị Kim N đến quán nước giải khát của chị Huỳnh Thị Bích H2, tại nhà số A đường V, khu phố D, phường P, thành phố P, N nhìn thấy chị H2 để 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng trên bàn, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng chị H2 đi vào trong nhà, N lén lút lấy chiếc điện thoại trên rồi tẩu thoát.
Sau đó, N mang điện thoại đến tiệm điện thoại tại địa chỉ số C đường B, khu phố H, phường P, thành phố P, bảo là điện thoại này mua lại của một người quen và bán cho anh Nguyễn Vũ L1 với giá 1.100.000 đồng. Số tiền này N tiêu xài hết.
Đến ngày 23/3/2024, Công an phường P mời làm việc, biết nguồn gốc điện thoại Iphone 11, màu trắng trên do N trộm cắp, nên anh L1 đã tự nguyện giao nộp cho công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 91/KL – HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng, số Imei1: 356554102811847, số Imei2: 356554102978349, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, tại thời điểm định giá ngày 16/3/2024 có giá trị là 4.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P đã trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng, cho chị Huỳnh Thị Bích H2, chị H2 yêu cầu Nguyễn Thị Kim N bồi thường 4.000.000 đồng tiền sửa chữa điện thoại do bị hư màn hình và loa.
Anh Nguyễn Vũ L1 không yêu cầu Nguyễn Thị Kim N trả lại số tiền 800.000 đồng đã mua điện thoại.
Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKSPT-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim N phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai, đã nêu đúng và đầy đủ hành vi chiếm đoạt tài sản bị cáo đã thực hiện trong vụ án.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 01 điều 173, điểm g khoản 01 điều 52, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kin N1 từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản".
Về bồi thường dân sự : Đề nghị tuyên buộc Nguyễn Thị Kim N phải bồi thường cho chị Huỳnh Thị Bích H2 tiền sửa chữa điện thoại 04 triệu đồng, trả lại cho anh Nguyễn Thế A số tiền mua bán điện thoại là 2,7 triệu đồng.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo hoàn cảnh khó khăn con còn nhỏ không có ai chăm sóc, mong Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2]Về đánh giá chứng cứ, căn cứ buộc tội bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào các ngày 25/02/2024, ngày 16/3/2024, Nguyễn Thị Kim N đã 02 lần lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, trị giá 9.500.000 đồng của chị Nguyễn Duy H1, 01 điện thoại Iphone 11, trị giá 04 triệu đồng của chị Huỳnh Thị Bích H2, sau đó mang bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 01 điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, truy tố đối với bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn tại cáo trạng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Thế A khi mua điện thoại của bị cáo N mang bán, N đã nói nguồn gốc chiếc điện thoại này do N nhặt được nhưng vẫn mua mà không trình báo cơ quan chức năng. Nguyễn Vũ L1 mua điện thoại di động có cài mật khẩu màn hình và được N cho biết điện thoại mua của người quen nhưng quên mật khẩu nhưng vẫn chấp nhận mua sau đó cậy phá lấy linh kiện mang bán cho người khác làm hư hỏng điện thoại do bị cáo N trộm cắp của em Huỳnh thị Bích H2 trong vụ án. Hành vi của các đối tượng trên có dấu hiệu của tội “ Tiêu thụ do người khác phạm tội mà có “ nhưng cơ quan điều tra chưa làm rõ để xử lý. Xét thấy việc xử lý hay không xử lý đối với các đối tượng này không ảnh hưởng đến việc định tội danh và truy cứu trách nhiệm Hình sự đối với bị cáo trong vụ án, nhưng để đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, Hội đồng xét xử sơ thẩm kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố P tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý Nguyễn Thế A và Nguyễn Vũ L1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét bị cáo về nhân thân sau khi trộm cắp trong vụ án còn tiếp tục bị xử phạt hành chính, về hành vi trộm cắp tài sản, và thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không được xem là có nhân thân tốt.
Xét bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản người khác để tiêu xài cá nhân, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an địa phương.
Với nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo 02 lần trộm cắp tài sản với trị giá mỗi lần chiếm đoạt từ 02 triệu đồng trở lên, nên thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự “phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 01 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
Bị hại Nguyễn Duy H1 đã nhận tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Bị hại Huỳnh Thị Bích H2, yêu cầu Nguyễn Thị Kim N bồi thường 4.000.000 đồng tiền sửa chữa điện thoại do bị hư màn hình và loa. Vấn đề bị hai khai điện thoại hư màn hình và loa cũng phù hợp lời khai của Nguyễn Vũ L1 khi mua điện thoại đã cậy loa mang bán cho người khác được 300.000đ và đã làm hư màn hình điện thoại; Do vậy yêu cầu của bị hại buộc bị cáo N phải trả lại tiền chi phí sữa chữa loa và màn hình 04 triệu đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với số tiền anh Nguyễn Thế A và Nguyễn Vũ L1 đã giao cho Nguyễn Thị Kim N thông qua việc mua điện thoại trộm cắp. Do Hội đồng xét xử sơ thẩm sẽ kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ để xử lý, nên sẽ không xem xét giải quyết trong vụ án.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại theo quy định tại tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 01 Điều 23 và khoản 01 phần I biểu A Danh mục kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào quy định tại khoản 01 Điều 173, điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
[2] Về trách nhiệm Dân sự : Áp dụng điểm b khoản 01 Điều 46 Bộ luật Hình sự , Khoản 01 Điều 589 Bộ luật Dân sự .
T1 buộc Nguyễn Thị Kim N phải bồi thường cho Huỳnh Thị Bích H2 chi phí sửa chữa điện thoại là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật( đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3] Về kiến nghị của Hội đồng xét xử: Kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Bình Thuận, điều tra làm rõ để xử lý Nguyễn Thế A và Nguyễn Vũ L1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Kim N phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí sơ thẩm Dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, vắng mặt: bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo bản án sơ thẩm của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo của người bị hại, Người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về những phần có liên quan tại bản án là 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc tống đạt bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án Dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
|
* Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T - Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ N2 XUÂN |
Bản án số 200/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 200/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim Ng trộm cắp tài sản
