Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 200/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-9-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình:

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa và ông Nguyễn Thành Phước.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Khóm H, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Khóm H, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H có mặt, anh Võ Minh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Võ Minh T do tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 2006, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký hết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 08/7/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc có 01 con chung tên Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010. Tuy nhiên đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là anh Võ Minh T thường xuyên cờ bạc mặc dù chị đã nhiều lần khuyên nhủ. Đến ngày 25/9/2020, anh Võ Minh T bị bắt điều tra, khởi tố và xét xử về tội danh tổ chức đánh bạc, bị Tòa án tuyên phạt 05 năm tù giam, hiện tại đang chấp hành án tại trại giam M và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay.

Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu được ly hôn anh Võ Minh T;

Về con chung: Có một con chung tên Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Võ Minh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ghi nhận ý kiến của bị đơn anh Võ Minh T như sau: Về quá trình hôn nhân anh thống nhất với trình bày của chị Nguyễn Thị H. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H thì anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ, con và mâu thuẫn giữa vợ chồng là hoàn toàn không có.

Về con chung: Có một con chung tên Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010. Trường hợp ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị Nguyễn Thị H cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tòa án đã mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, anh Võ Minh T hiện đang chấp hành án tại Trại giam M và có đơn đề nghị được vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Võ Minh T; yêu cầu được nuôi con chung tên Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010, không yêu cầu anh Võ Minh T cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Võ Minh T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H có mặt, anh Võ Minh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Võ Minh T.

Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng; anh Võ Minh T không cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Chị Nguyễn Thị H và anh Võ Minh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2015 do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 08 tháng 7 năm 2015). Anh Võ Minh T có địa chỉ thường trú tại: Khóm H, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Minh T; yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H có mặt, anh Võ Minh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Xét việc tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị H và anh Võ Minh T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 7 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Chị Nguyễn Thị H cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không còn phù hợp, thường xuyên cự cãi, anh Võ Minh T hay cờ bạc, cuộc sống không hạnh phúc, mặc dù đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng không có kết quả. Đến ngày 25/9/2020, anh Võ Minh T bị bắt điều tra, khởi tố và xét xử về tội danh tổ chức đánh bạc, bị Tòa án tuyên phạt 05 năm tù giam, hiện tại đang chấp hành án tại trại giam M và vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Anh Võ Minh T cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, chị Nguyễn Thị H cương quyết ly hôn mặc dù anh Võ Minh T không đồng ý cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Võ Minh T.

[2.2] Về con chung:

Chị Nguyễn Thị H trình bày chị và anh Võ Minh T có một con chung là Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010, hiện tại cháu đang sống cùng chị. Quá trình giải quyết vụ án, cháu Võ Nguyễn Phương V cũng có nguyện vọng tiếp tục sống chung với chị Nguyễn Thị H.

Xét thấy, việc giao cháu Võ Nguyễn Phương V cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết để không làm ảnh hưởng cuộc sống của cháu.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H giao cháu Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng.

[2.3] Về cấp dưỡng cho con: Tòa án đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Nguyễn Thị H vẫn không yêu cầu anh Võ Minh T cấp dưỡng cho con, quá trình giải quyết vụ án anh Võ Minh T cũng không có ý kiến về việc cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

[5] Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu chi phí tố tụng. Anh Võ Minh T không phải chịu chi phí tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Võ Minh T.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Phương V, sinh ngày 30/3/2010 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng. Anh Võ Minh T không cấp dưỡng cho con.

Anh Võ Minh T và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H và các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Võ Minh T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản:

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị H xác định không có nợ chung. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Nguyễn Thị H và anh Võ Minh T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014021 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

Anh Võ Minh T không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 3.000.000 (ba triệu) đồng, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

Anh Võ Minh T không phải chịu chi phí tố tụng.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn (1);
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (1);
  • - Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu văn phòng (1);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Trí Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 200/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Hiền được ly hôn với anh Võ Minh Tuấn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger