Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 200/2024/HS-ST

Ngày: 16-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Quang Chung

Bà Trần Thị Mai

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 192/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Hữu N, sinh năm 1976 tại: tỉnh Nam Định; số CCCD:[...]; Nơi đăng ký thường trú: Số B đường V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số I đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu L và bà Nguyễn Thị S; có vợ Phạm Thị N1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/5/2012 Công an phường C, thành phố N quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 28/9/2014 Công an phường P, thành phố N xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 29/6/2020 Công an phường C, thành phố N xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bản án số 320 ngày 28/10/2020, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (chấp hành xong hình phạt ngày 04/7/2021); bị cáo bị

tạm giữ từ ngày 09/6/2024, chuyển tạm giam ngày 18/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Tư H; ông Trần Xuân H1 (không triệu tập đến phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường L, thành phố N phát hiện Trần Hữu N điều khiển xe máy biển kiểm soát 18E1 - 7259 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Nghị thả từ tay trái xuống đất 01 túi ni lông màu hồng, bên trong có 01 nắp chai nhựa màu xanh có 2 lỗ, một lỗ cắm ống thủy tinh một đầu hình cầu, một lỗ cắm 01 ống nhựa màu trắng dài khoảng 30cm, 01 đoạn ống nhựa màu vàng kẻ đỏ dài khoảng 18cm và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong ký hiệu M1 và 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu M2 (N khai khi mua Heroine được người bán cho 1 túi ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Hữu N. Ngoài ra, tạm giữ của N 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen xám, biển kiểm soát 18E1 – 7259 đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1081/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2,5x2,5) cm, được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M1: 0,155 gam. Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng, được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu M2: 0,279 gam.

Tại cơ quan điều tra, Trần Hữu N khai nhận: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 09/6/2024, N điều khiển xe máy biển kiểm soát 18E1 - 7259 đi từ nhà đến khu vực cầu L, phường L, thành phố N gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Người đàn ông này hỏi N có sử dụng ma túy đá không thì cho N một ít sử dụng, N đồng ý. Người đàn ông này đưa cho N 01 túi ni lông màu hồng, bên trong có 01 gói Heroine, 01 túi ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy. N cầm túi trong tay trái, điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ

Bản cáo trạng số 196/CT-VKS-TPNĐ ngày 26-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trần Hữu N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu N đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới. Bà Nguyễn Thị S (mẹ đẻ của bị cáo) đã nộp cho Hội đồng xét xử huy chương kháng chiến hạng Nhất thể hiện bà S đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và có đơn trình bày xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Hữu N tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hữu N từ 27 tháng tù đến 33 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong số 1081/KL- KTHS của Phòng K Công an tỉnh N; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu vàng kẻ đỏ dài khoảng 18cm; 01 nắp chai nhựa màu xanh có 02 lỗ; một túi ni lông màu hồng.

Bị cáo Trần Hữu N nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình

tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Hữu N trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định số 1081/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Hữu N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,279 gam Heroine và 0,155 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Trần Hữu N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo có hành vi tàng trữ để sử dụng 0,279 gam Heroine và 0,155 gam Methamphetamine, tổng cộng là 0,434 gam ma tuý. Vì vậy bị cáo Trần Hữu N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Hữu N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, tại phiên toà bà Nguyễn Thị S (mẹ đẻ của bị cáo) đã nộp cho Hội đồng xét xử huy chương kháng chiến hạng Nhất thể hiện bà S đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và có đơn trình bày xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Hữu N là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ hành vi

phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Hữu N tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy thu giữ của bị cáo trong phong bì niêm phong số 1081/KL-KTHS là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên sẽ tiêu hủy.
  • - 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu vàng kẻ đỏ dài khoảng 18cm; 01 nắp chai nhựa màu xanh có 02 lỗ; một túi ni lông màu hồng tất cả đều không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 18E1-7259 là tài sản của bà Vũ Thị Lan P, sinh năm 1976 (là chị dâu của N). Bà P không biết N mượn xe đi mua ma tuý nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà P là đúng quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật

[8] Về án phí:

Bị cáo Trần Hữu N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trần Hữu N 02 năm 3 tháng tù ( hai năm ba tháng tù).
  • Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09-6-2024.

2. Xử lý vật chứng:

  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1081/KL- KTHS ngày của Phòng K Công an tỉnh N.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 đoạn ống nhựa màu vàng kẻ đỏ dài khoảng 18cm; 01 nắp chai nhựa màu xanh có 02 lỗ; một túi ni lông màu hồng
  • (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-9-2024)

3. Án phí:

  • - Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Bị cáo Trần Hữu N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Hữu N có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Hữu N có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 200/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger