|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 200/2024/HS-ST Ngày 12-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Từ Anh Tuấn;
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024, đối với bị cáo:
Trần Công N
sinh năm 1970, tại tỉnh Thái Bình. Thường trú: số D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công R (đã chết) và bà Bùi Thị P (đã chết); vợ Quách Thị H, sinh năm 1972; bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1977. Thường trú: số D, khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1989, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1988.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Công N và Lê Thị T1 (có tên gọi khác là Nguyễn Thị Kiều N2) có mối quan hệ tình cảm với nhau, sống chung với nhau tại nhà không số, đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Trần Công N và Lê Văn T có mối quan hệ bạn bè với nhau. Cả N, T1 và T đều là các đối tượng sử dụng ma túy đá.
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, khi đang trên đường đi làm về, N dừng lại ở trước nhà số B, đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp và hỏi mua 800.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi đưa tiền, N được người đàn ông trên đưa cho 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong có chứa tinh thể ma túy màu trắng. Nghiêm cất vào trong bóp da, để ở túi quần bên phải Nghiêm mặc và đi về nhà tại địa chỉ đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lúc này, trong nhà có T1 đang ở nhà, khoảng 10 phút sau, Lê Văn T đến và ăn cơm cùng với N và T1 tại nhà.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm và đi tắm, Trần Công N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong nhà ra, đổ một phần ma túy vừa mua lúc chiều vào trong bộ dụng cụ, rồi sử dụng, Lê Thị T1 cũng đến sử dụng chung với N. Lúc này, Lê Văn T đang nằm trên ghế S và chuẩn bị đi ra trước nhà nên N gọi T và nói “làm một khói” (tức là sử dụng ma túy) thì T đồng ý và đi đến chỗ N sử dụng ma túy. Sử dụng xong thì N cất gói ma túy ở trên hộp sữa Canago để trên kệ bếp và đi ngủ trước, đến 22 giờ 00 phút, T1 mở cửa cho T đi về nhà.
Đến 21 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, N và T đi làm về ở tại nhà không số, đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, khi về đến nhà N hỏi T1 bộ dụng cụ sử dụng ma túy ở đâu, T1 nói đang ở dưới bàn khu vực phòng khách. Sau đó, N tự lấy bộ dụng cụ ma túy ra và hút hết cặn ma túy còn lại trong nỏ.
Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, Công an phường T, thành phố D kiểm tra hành chính nhà không số, địa chỉ đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Lúc này, trong nhà có 04 người, gồm: Nghiêm, T, T1 và con mới sinh của T1. Nghi vấn các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mời về trụ sở Công an phường làm việc. Tiến hành xét nghiệm nhanh xác định, Trần Công N, Lê Văn T, Lê Thị T1 (tên gọi khác: Nguyễn Thị Kiều N2) dương tính với chất ma túy nên Công an phường T đã lập biên bản vụ việc đối với sự việc trên.
Đến 01 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tiến hành khám xét khẩn cấp nhà không số, địa chỉ tại đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quá trình khám xét, phát hiện:
- Trong phòng khách dưới bàn gỗ từ ngoài bước vào trong, phía bên trái có 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa).
- Tại khu vực cạnh bếp trên kệ từ ngoài đi vào trong, phía trước bên trái có 01 (một) gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng để trên hộp sữa có chữ Canago.
Sau khi khám xét, tiến hành làm việc với Trần Công N, Nguyễn Văn T2, Lê Thị T1 thì cả ba đều không thừa nhận mình tàng trữ gói nylon chứa tinh thể màu trắng nêu trên.
Đến 15 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, Trần Công N đến đầu thú tại Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận giám định số 57/KL-KTHS(MT) ngày 27/12/2023, kết luận: “Mẫu tinh thể, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,2388 gam".
Ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Công N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 Plus, màu đen, sim số 0937.991.783, số máy: MN6F2J/A, SỐ S: DX3V28LTHFYL thu giữ của Trần Công N.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu tím đen, sim số: 0818.621.079 thu giữ của Nguyễn Văn T2.
- 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa).
- 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng, khối lượng M= 1,1824 gam.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 Plus, màu đen, sim số 0937.991.783, số máy: MN6F2J/A, SỐ S: DX3V28LTHFYL thu giữ của Trần Công N thu giữ trong vụ án. Qua trình điều tra xác định, đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Trần Công N, không phải là phương tiện phạm tội nên đề nghị trả lại cho Trần Công N.
- Đối 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu tím đen, sim số: 0818.621.079 (bị hỏng màn hình, không lên nguồn được) thu giữ của Nguyễn Văn T2. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn Văn T2, không phải là phương tiện phạm tội nên đề nghị trả lại cho Nguyễn Văn T2.
- Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa) và 1,1824 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định. Xét thấy, đây là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Nguyễn Văn T2 và Lê Thị T1, hai đối tượng trên có sử dụng ma túy với Trần Công N. Tuy nhiên, cả hai không góp tiền sử dụng hay có hành vi giúp sức với Trần Công N trong việc “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bản thân T2 và T1 không biết việc N cất giấu ma túy ma túy trên hộp sữa Canago ở trên kệ bếp. Do vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T2 và T1. Ngày 25/12/2023, Công an phường T, thành phố D ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T2 và Lê Thị T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho Trần Công N trước nhà số B. đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, rà soát xung quanh khu vực trên nhưng không đối tượng nào có đặc điểm như N mô tả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Tại cáo trạng số: 202/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Công N với mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Công N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội với mức án từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù.
Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo Trần Công N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
[2.1] Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, khi đang trên đường đi làm về, bị cáo Trần Công N dừng lại ở trước nhà số B, đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp và hỏi mua 800.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi mua được ma túy thì N đi về nhà tại địa chỉ: nhà không số, đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong nhà ra, đổ một phần ma túy vừa mua lúc chiều vào trong bộ dụng cụ để cho N, T1 và T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo N cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm (là căn nhà của N xây dựng trên đất thuê của ông Đinh Xuân H1 theo Hợp đồng cho thuê đất ở ngày 28/7/2022) để cho N, T1 và T2 sử dụng trái phép chất ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, sau khi mua 800.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) thì N đi về nhà tại địa chỉ: nhà không số, đường D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương lấy một ít ma túy ra đổ vào trong bộ dụng cụ để cho N, T1 và T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với số ma túy (loại Methamphetamine) còn lại có khối lương có khối lượng: 1,2388 gam Nghiêm cất ở trên hộp sữa Canago để trên kệ bếp nhằm mục đích sử dụng cho các lần sau (việc N cất ma túy thì T2 và T1 không biết) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo N với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Về nhận thức, bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 plus, màu đen, sim số 0937.991.783, số máy: MN6F2J/A, số seri: DX3V28LTHFYL thu giữ của Trần Công N và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu tím đen, sim số 0818621079 thu giữ của Nguyễn Văn T2. Xét thấy, đây là các tài sản cá nhân của Trần Công N và Nguyễn Văn T2 không liên quan đến hành vi phạm tội, không phải là vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử sẽ trả lại tài sản cho cho chủ sở hữu tài sản.
- Đối với 01 (một) bì thư niêm phong (ghi số 57/PC09) chứa 1,1388 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa). Xét thấy, đây là vật cấm lưu hành và công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Đối với Nguyễn Văn T2 và Lê Thị T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với Trần Công N. Tuy nhiên, cả hai không góp tiền sử dụng hay có hành vi giúp sức với Trần Công N trong việc “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bản thân T2 và T1 không biết việc N cất giấu ma túy ma túy trên hộp sữa Canago ở trên kệ bếp. Do vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T2 và T1. Ngày 25/12/2023, Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T2 và Lê Thị T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
[9] Án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Công N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Công N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Công N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong (ghi số 57/PC09) chứa 1,1388 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa).
- Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone 7 plus, màu đen, sim số 0937.991.783, số máy: MN6F2J/A, số seri: DX3V28LTHFYL cho Trần Công N và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu tím đen, sim số 0818621079 cho Nguyễn Văn T2.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/7/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Công N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 200/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Công N phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
