|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 200/2024/DS-ST Ngày: 10 – 7 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Văn Công Trọn
- Ông Hồ Quang Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 319/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1967 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Lý Văn Đ (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 15/4/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày: Ngày 21/01/2024 ông có bán cá bổi (cá sặc rằn) cho ông Lý Văn Đ, gồm cá loại I, số lượng 560kg, với giá 68.000đ/kg bằng số tiền 38.080.000 đồng; cá loại II, số lượng 520kg, với giá 56.000đ/kg bằng số tiền 29.120.000 đồng. Tổng số tiền 67.200.000 đồng, khi mua bán có làm biên nhận và ông Đ có ký tên xác nhận, số tiền trên ông Đ không thanh toán khi mua cá mà nợ lại. Sau đó, ông Lý K là cha của ông Đ nhiều lần chuyển trả cho ông H số tiền 31.000.000 đồng và còn nợ lại 36.200.000 đồng đến thời điểm khởi kiện vẫn chưa thanh toán. Nay ông yêu cầu ông Đ trả cho ông số tiền 36.200.000 đồng, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Lý Văn Đ vẫn vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp là hợp đồng mua bán tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã ban hành Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (02 lần), Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho ông Lý Văn Đ nhưng ông Đ đều vắng mặt không rõ lý do, nguyên đơn ông Trần Văn H có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[3] Xét yêu cầu trả tiền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 21/01/2024 ông H có bán cá bổi (cá sặc rằn) cho ông Lý Văn Đ, gồm cá loại I, số lượng 560kg, với giá 68.000đ/kg bằng số tiền 38.080.000 đồng; cá loại II, số lượng 520kg, với giá 56.000đ/kg bằng số tiền 29.120.000 đồng. Tổng số tiền 67.200.000 đồng, khi mua bán có làm biên nhận và ông Đ có ký tên xác nhận, số tiền trên ông Đ không thanh toán khi mua cá mà nợ lại. Sau đó, ông Lý K là cha của ông Đ nhiều lần chuyển trả cho ông H số tiền 31.000.000 đồng và còn nợ lại 36.200.000 đồng. Chứng minh cho yêu cầu của mình ông H cung cấp cho Toà án biên nhận nợ tiền ngày 21/01/2024 có chữ ký, chữ viết của ông Đ. Như vậy, giao dịch mua bán cá giữa ông H với ông Đ là thực tế có xảy ra và ông Đ còn nợ lại số tiền như nguyên đơn yêu cầu.
[4] Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải, xét xử nhưng ông Đ không có mặt cũng như không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án để thể hiện sự phản đối trước yêu cầu của nguyên đơn, điều đó thể hiện về mặt ý thức không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào biên nhận nợ tiền ngày 21/01/2024 làm căn cứ chứng minh được quy định tại khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khẳng định về chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là có cơ sở. Do đó, căn cứ vào biên nhận nợ tiền ngày 21/01/2024 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lý Văn Đ có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Văn H số tiền 36.200.000 đồng.
[5] Do phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông H nên ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 1.810.000 đồng. Ông H không phải chịu án phí đã dự nộp được nhận lại là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H – Buộc ông Lý Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông H số tiền 36.200.000 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Lý Văn Đ phải chịu 1.810.000 đồng. Ông Trần Văn H được nhận lại số tiền 905.000 đồng theo biên lai thu số 0004860 ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Án xử sơ thẩm công khai: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đ1 |
Bản án số 200/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 200/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
