Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 200/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân;

2. Ông Võ Văn Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hằng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hiệp-Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 272/2024/HSST-QĐ ngày 29/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn S, sinh năm: 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm: 1977 và bà Trần Thị Kim L, sinh năm: 1973; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phạm Văn S là đối tượng nghiện ma túy. Để có tiền tiêu xài và có chất ma túy sử dụng, bị cáo bắt đầu mua bán trái phép chất ma túy từ khoảng tháng 02/2024. S được bạn bè ngoài xã hội (không rõ lai lịch) cho biết người thanh niên tên L1 (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên “Chị N” bán chất ma túy tại khu vực huyện Đ, tỉnh Long An. S đã liên lạc gặp L1 hỏi mua chất ma túy được 03 lần để sử dụng và bán lại cho người khác. Cụ thể:

- Lần 01: Vào ngày 15/02/2024, bị cáo S mua của Lăng 500.000₫ ma túy đá mang về phân ra bán cho người thanh niên tên P (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 200.000đ, bán cho người thanh niên tên V (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 200.000đ, phần ma túy còn lại bị cáo sử dụng một mình cho đến hết.

- Lần 02: Vào ngày 29/02/2024, bị cáo S tiếp tục mua của L1 700.000đ ma túy đá mang về phân ra bán cho người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 250.000đ, phần ma túy còn lại bị cáo để sử dụng và bán lại cho người nghiện.

- Lần 03: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 17/03/2024, bị cáo S tiếp tục gọi vào tài khoản Zalo tên “Chị N”, gặp người thanh niên tên L1 (không rõ lai lịch) hỏi mua ma túy với giá 600.000đ. L1 đồng ý và hẹn gặp tại ngã tư H thuộc huyện Đ, tỉnh Long An. Sau đó bị cáo S đi xe buýt đến ngã tư H và nhắn tin vào tài khoản Zalo tên “Chị N” báo đã đến nơi. Khoảng 05 phút sau, có người thanh niên đi bộ đến gặp, bị cáo S đưa cho người thanh niên số tiền 600.000đ và nhận 01 gói ma túy, bị cáo giấu gói chất ma túy vào túi quần bên trái bị cáo đang mặc rồi đi xe buýt về lại phòng trọ. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, có người thanh niên tên P (không rõ lai lịch) đến phòng trọ của bị cáo S hỏi mua thiếu 200.000đ ma túy, bị cáo S đồng ý và lấy gói ma túy vừa mua của L1 phân ra thành 02 gói, 01 gói ma túy bị cáo S bán cho người thanh niên tên P (không rõ lai lịch) với giá 200.000đ nhưng chưa lấy tiền. Gói ma túy còn lại S chiết một phần vào bộ dụng cụ để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết. Phần còn lại S cất giấu trong ví, ma túy còn lại trong bộ D S cất giấu.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, bị cáo S nhắn tin cho Chu Minh T1 nói còn 200.000đ ma túy hỏi T1 có mua không, T1 đồng ý mua nhưng hẹn đến chiều tối sẽ trả tiền sau thì bị cáo đồng ý bán. Sau đó, bị cáo S đi bộ đến nhà của T1 thuộc ấp B, xã T, huyện C bán cho T1 01 gói ma túy giá 200.000đ nhưng chưa lấy tiền. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Đội Cảnh sát ma túy Công an huyện C với Công an xã P, huyện C kiểm tra hành chính phòng trọ của bị cáo S thì gói tinh thể không màu theo bị cáo S khai là chất ma túy đá, Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của bị cáo S tại ấp T, xã P, huyện C không thu giữ gì.

Kết luận giám định số 3723/KL-KTHS ngày 27/03/2024 của Phòng K Công an Thành phố H xác định:

“- Gói 1: Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1970g loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2668g loại Methamphetamine”.

Vật chứng thu giữ:

- 02 gói niêm phong mang số vụ 1108/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 861728041265053, Imei2: 861728041265046.

- 01 cái ví, 01 cái quẹt gas, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa có đầu vạt nhọn, 01 cái kéo, 03 gói nylon không chứa gì, 01 bộ dụng cụ không có ống thủy tinh.

Cáo trạng số 167/CT-VKS.CC ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố Phạm Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo từ huyện C đến huyện C thuê phòng trọ để đi làm vào năm 2018, bị cáo chơi ma túy lần đầu vào tháng 12/2023 do bạn bè rủ rê khi đi nhậu, sau đó để có tiền mua chất ma túy sử dụng, từ tháng 02/2024 bị cáo nảy sinh ý định mua chất ma túy về phân thành nhiều tép nhỏ để bán cho những người nghiện. Bị cáo được bạn bè trong Công ty nơi bị cáo làm việc chỉ cho người bán ma túy, sau đó bị cáo liên lạc với người tên L1 không rõ lai lịch qua mạng xã hội Z để mua chất ma túy mang về phân nhỏ thanh nhiều tép bán cho người nghiện liên lạc qua số điện thoại của bị cáo 0339.670.xxx để hẹn địa điểm giao nhận chất ma túy và nhận tiền. Cụ thể: Lần 1: Ngày 15/02/2024 bị cáo mua của người tên L1 gói chất ma túy với giá 500.000đ, bị cáo mang về phân ra bán cho người nghiện tên P không rõ lai lịch 01 gói chất ma túy với giá 200.000đ, bán cho người nghiện tên V không rõ lai lịch 01 gói chất ma tý với giá 200.000 đồng, số chất ma túy còn lại bị cáo sử dụng; Lần 2: Ngày 29/02/2024 bị cáo tiếp tục mua của người tên L1 gói chất ma túy với giá 700.000đ, bị cáo mang về phân ra bán cho người nghiện tên T không rõ lai lịch 01 gói chất ma túy với giá 250.000đ, số chất ma túy còn lại bị cáo sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác. Lần 3: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/3/2024, bị cáo dùng điện thoại liên lạc với người tên L1 hỏi mua 01 gói chất ma túy với giá 600.000₫ và hẹn địa điểm giao nhận chất ma túy tại ngã tư H thuộc huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo đón xe buýt đến ngã tư H gặp người tên L1 để nhận 01 gói chất ma túy và đưa cho người tên Lăng 600.000đ. Bị cáo cất giấu gói chất ma túy vào túi quần rồi đón xe buýt về phòng trọ. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, có người nghiện tên P không rõ lai lịch đến nhà trọ bị cáo hỏi mua gói chất ma túy với giá 200.000đ nhựng hẹn hôm khác sẽ đưa tiền thì bị cáo đồng ý, bị cáo chiếc một phần bán cho người nghiện và bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong ví. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, bị cáo dùng điện di động nhắn tin cho người nghiện tên Chu Minh T2 hỏi có mua chất ma túy không thì T2 đồng ý mua nhưng hẹn đến tối mới trả tiền thì bị cáo đồng ý, bị cáo đi bộ đến nhà của T2 tại ấp B, xã T, huyện C để giao chất ma túy cho T2. Đến 20 giờ 30 phút ngày 18/3/2024, Công an kiểm tra phòng trọ của bị cáo thì phát hiện trong phòng trọ có bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy và 01 gói nylon trong ví của bị cáo, bị cáo khai là chất ma túy nên Công an lập biên bắt người phạm tội quả tang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Văn S mức án từ 03 (Ba) năm tù đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong mang số vụ 1108/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên; 01 cái ví, 01 quẹt gas, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa có đầu vạt nhọn, 01 cái kéo, 03 gói nylon không chứa gì và 01 bộ dụng cụ không có ống thủy tinh.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imei1: 861728041265053, số I: 861728041265046.

Bị cáo Phạm Văn S không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo còn sớm trở về quê ở huyện C lo cho cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo Phạm Văn S có hành vi tàng trữ trái phép ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4638g, loại Methamphetamine nhằm mục đích mua bán. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, với phương thức đi mua chất ma túy về phân thành nhiều gói để bán cho những người nghiện. Hành vi này chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, việc bị cáo tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm là cần thiết.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 32 và Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[6] Về vật chứng vụ án:

- 02 gói niêm phong mang số vụ 1108/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên là đối tượng phạm tội, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 cái ví, 01 quẹt gas, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa có đầu vạt nhọn, 01 cái kéo, 03 gói nylon không chứa gì và 01 bộ dụng cụ không có ống thủy tinh là vật dụng liên quann đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 861728041265053, số I: 861728041265046 là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, theo bị cáo khai còn có 01 người thanh niên tên L1 (không rõ lai lịch) là người bán chất ma túy cho bị cáo và những người nghiện tên P, V, T (không rõ lai lịch) mau ma túy của bị cáo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý sau. Riêng đối với người nghiện tên Chu Minh T2, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển đến Công an xã xử lý theo thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét các xử lý trên là phù hợp nên không xét.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc bị cáo Phạm Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024.

2. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong mang số vụ 1108/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên, số lượng: 2 Khác; 01 cái ví, 01 quẹt gas, 01 cân điện tử, 01 ống nhựa có đầu vạt nhọn, 01 cái kéo, 03 gói nylon không chứa gì, 01 bộ dụng cụ không có ống thủy tinh;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 861728041265053, số I: 861728041265046.

(Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 129/PNK ngày 20/5/2024 và Lệnh nhập kho vật chứng số 506/LNK-ĐCSMT ngày 16/4/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện C).

3. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) buộc bị cáo Phạm Văn S phải chịu.

4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 200/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger