Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2024/HS-ST

Ngày: 03 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và ông Nguyễn Quang Huy

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ X - Kiểm sát viên.

Từ ngày 30 tháng 7 năm 2024 đến ngày 03 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2024/TLST-HS, ngày 08/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 17/7/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: PHAN THÀNH Đ, sinh ngày 03/11/1984; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Tổ E, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở hiện nay: Tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phan Thành Đ (Đã chết), con bà: Đặng Thị H; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1948 (Đã chết).

Những người đại diện hợp pháp của bị hại gồm:

  1. Bà Ma Thị T1, sinh năm 1952 (vợ ông T)
  2. Trú tại: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Chị Nguyễn Thúy N, sinh năm 1973 (con gái ông T)
  4. Trú tại: Phố L, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

  5. Anh Nguyễn Đức N1, sinh năm 1975 (con trai ông T)
  6. Trú tại: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  7. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 (con gái ông T)
  8. Trú tại: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo uỷ quyền của chị N, chị H1, anh N1 là bà Ma Thị T1, sinh năm 1952

Trú tại: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

- Người làm chứng:

Anh Trịnh Văn T2, sinh năm 2000.

Nơi ĐKHKTT: Xóm V, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 12/01/2024, Phan Thành Đ1 (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: Đỏ - đen BKS 28H1-254.99 tham gia giao thông di chuyển trên đường H hướng từ đường T đến đường Q, thành phố T. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ A, phường T, thành phố Thái Nguyên do Đ không chú ý quan sát nên không phát hiện ông Nguyễn Đức T đang ngồi nhặt ve chai dưới lòng đường ở phía trước xe của Đ1 dẫn đến phần đầu xe mô tô của Đ1 đâm va vào người ông T khiến ông T ngã đập đầu xuống nền đường, Đ1 và xe cùng đổ, ngã ra đường. Sau đó, ông T được Đ1 và gia đình đưa đi cấp cứu.

Hậu quả: Ông Nguyễn Đức T bị đa chấn thương được đưa vào Bệnh viện T3 cấp cứu nhưng do bị thương nặng đã tử vong hồi 05 giờ 56 ngày 17/01/2024 tại gia đình. Đ1 bị 01 vết rách da KT (1 x 1,5) cm tại vị trí cổ tay trái. Xe mô tô BKS: 28H1-254.99 bị hư hỏng nhẹ.

Tại Kết luận giám định tử thi số 331/KLGĐTT-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Nguyễn Đức T, sinh năm 1948, nơi đăng ký HKTT: tổ I, phường T, thành phố T bị đa chấn thương: gãy thành ngoài và trong ổ mắt trái, gãy cung tiếp bên trái, gãy thành xoang hàm trái, vỡ khớp gối bên trái, chấn thương sọ não, vỡ xương trán, chảy tụ máu trong hộp sọ, đụng dập tụ máu trong nhu mô não, tổ thương thần kinh trung ương không hồi phục dẫn đến chết.

Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, do giá trị tài sản xây sát nhẹ không xác định được hư hỏng, không có hóa đơn mua, bán, tờ khai hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu cũng như những tài liệu khác thể hiện tính pháp lý, đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản, nguồn gốc xuất xứ, năm sản xuất nên Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở xác định được trị giá thiệt hại của xe mô tô trên.

Tại Cơ quan điều tra Phan Thành Đ1 khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 12/01/2024, Đ1 điều khiển xe mô tô BKS: 28H1-254.99 tham gia giao thông đi trên đường H hướng về phía đường Q trong điều kiện trời nhá nhem tối, có ánh đèn đường chiếu sáng, đoạn đường thẳng, không có vật cản che khuất, mật độ phương tiện tham gia giao thông bình thường, thời tiết mưa phùn nên Đ1 mặc áo mưa choàng qua đèn chiếu sáng. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ A, phường T, thành phố T, Đ1 không chú ý quan sát, không phát hiện thấy ông Nguyễn Đức T đang ngồi nhặt ve chai dưới lòng đường trên cùng phần đường dẫn đến phần đầu của xe môtô BKS: 28H1-254.99 do Đ1 điều khiển đâm va vào người ông T khiến ông T ngã đập đầu xuống đường gây thương tích nặng. Xe môtô BKS 28H1-254.99 và Đ1 đổ, ngã xuống nền đường. Sau đó Đ1 và gia đình ông T cùng quần chúng nhân dân đưa ông T đi cấp cứu.

Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, kết luận định giá tài sản, lời khai của người làm chứng, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, trích xuất đoạn videoclip ghi lại nội dung diễn biến vụ tai nạn giao thông đã thu thập tại hiện trường, đã đủ căn cứ để xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn trên là do Phan Thành Đ1 điều khiển xe mô tô BKS 28H1-254.99 không tuân thủ quy tắc giao thông, không giảm tốc độ trong điều kiện thời tiết là trời mưa, không chú ý quan sát nên không phát hiện ra ông Nguyễn Đức T đang nhặt ve chai dưới lòng đường phía trước khiến phần đầu xe mô tô do Đ1 điều khiển đã đâm va vào người ông T làm ông T đập đầu xuống đường bị thương nặng dẫn đến tử vong.

Về trách nhiệm dân sự: Phan Thành Đ1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông T tổng số tiền 132.000.000đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ1.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Thành Đ1 khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Bản cáo trạng số 185/CT-VKSTPTN, ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phan Thành Đ1 về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Thành Đ1 phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thành Đ1 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Đ1 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Thành Đ1. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cũng như tình tiết của vụ án, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo không giam giữ để bị cáo có thể nhanh ổn định cuộc sống, công việc, kinh tế và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả giám định pháp y và lời khai của những người tham gia tố tụng khác.

Như vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ ngày 12/01/2024 Phan Thành Đ1 (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1), điều khiển xe mô tô BKS 28H1-254.99 đi trên đường H hướng từ đường T đến đường Q, thành phố T. Khi Đ1 điều khiển xe đến đoạn đường thuộc tổ A, phường T, thành phố T, do không tuân thủ Luật giao thông đường bộ, điều khiển xe không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ trong điều kiện thời tiết có mưa, khiến phần đầu xe mô tô do Đ1 điều khiển đã đâm va vào người ông Nguyễn Đức T khi đang ngồi nhặt ve chai dưới lòng đường làm ông T ngã đập đầu xuống đường, bị thương nặng dẫn đến tử vong hồi 05 giờ 56 phút ngày 17/01/2024.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ được quy định tại mục e khoản 3 Điều 30 của Luật giao thông đường bộ, Điều 5 của Thông tư số 31 quy định các trường hợp phải giảm tốc độ và đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Mục e khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ quy định:

“Điều 30: Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy:

3) Người điều khiển xe mô tô hai bánh ... không được thực hiện các hành vi sau đây:

e) Hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông”.

Điều 5 Thông tư số 31 quy định các trường hợp phải giảm tốc độ:

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp sau:

1) ...

1.1) Trời mưa.”

Điều 260 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của các phương tiện tham gia giao thông trên đường bộ cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông. Do đó, cần xử lý bị cáo nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại để khắc phục hậu quả đối với gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Do đó, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc mức hình phạt phù hợp quy định pháp luật. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục là cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo, đồng thời nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta và Hội đồng xét xử cần tuyên rõ hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Phan Thành Đ1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông Nguyễn Đức T cho những người đại diện hợp pháp của bị hại với số tiền là 132.000.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu đồng). Quá trình điều tra cũng như tại đơn xin vắng mặt, đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Ma Thị T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên về việc đã bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[6]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của Pháp luật cần chấp nhận.

[7] Về lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 109, Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phan Thành Đ1 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi bị cáo đi chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: AC194804, mang tên Phan Thành Đ1 do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 08/3/2007 (có giá trị đến không thời hạn), tại phiên toà bị cáo có nguyện vọng xin lại nên cần trả lại cho bị cáo Đ1 quản lý, sử dụng.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

[9]. Về quyền kháng cáo: Thông báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại biết có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015;
  • Các Điều 106, Điều 109, Điều 123, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thành Đ1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt Phan Thành Đ1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phan Thành Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đ1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo (Bị cáo Phan Thành Đ1) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo sau khi tuyên án: Ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phan Thành Đ1, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 03 tháng 8 năm 2024 cho đến khi bị cáo chấp hành án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tiếp.
  5. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phan Thành Đ1: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số: AC194804, mang tên Phan Thành Đ1 do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 08/3/2007 (có giá trị đến không thời hạn).

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

  6. Về án phí: Bị cáo Phan Thành Đ1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
  7. Thông báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND thành phố Thái Nguyên;
  • - Cơ quan điều tra CA thành phố Thái Nguyên;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Chi cục T.H.ADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 03/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 200/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thành Đ phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger