|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 200/2024/DS-PT Ngày: 03 - 5 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà;
Ông Đặng Minh Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 288/2023/DSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 97/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Tuấn E, sinh năm: 1972;
Bà Hồ Thị M, sinh năm: 1970.
Cùng cư trú: Khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1966; Cư trú tại: Số E đường Đ, khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1962;
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969.
Cùng cư trú: Khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị M1, sinh năm 1943; Cư trú tại: Ấp T, xã L, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1951; Cư trú tại: Số C, đường Q, khóm D, Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Lê Văn N, sinh năm 1952;
- Bà Lê Thị N1, sinh năm 1957;
- Ông Lê Văn C1, sinh năm 1958; Cư trú tại: Số E, đường P, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Lê Thị P, sinh năm 1964; Cư trú tại: Khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Lê Tuấn A, sinh năm 1968; Cư trú tại: Ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1945;
- Ông Lê Văn P1;
- Bà Lê Thị M2, sinh năm: 1973;
- Bà Lê Thị R;
- Ông Lê Văn X;
- Bà Lê Thị B, sinh năm: 1984;
- Ủy ban nhân dân thành phố C.
Cùng cư trú tại: Khóm B, Phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Cùng cư trú tại: Khóm B, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: G, N, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người kháng cáo: Bà Hồ Thị M và ông Lê Tuấn E – Là nguyên đơn.
Ông Lê Tuấn E, bà Hồ Thị M, ông Nguyễn Thanh Đ, ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị L có mặt tại phiên tòa, các đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Cha của ông Lê Tuấn E là ông Lê Văn P2 có phần đất tọa lạc tại ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau, diện tích 5.564,5m². Năm 2000 ông P2 và ông Lê Văn M3 hoán đổi phần đất nêu trên với đất của ông M3 diện tích 4.842,4m² để thuận tiện trong việc canh tác vì đất của ông M3 không có đường thoát nước. Việc thoả thuận đổi đất chỉ bằng lời nói, không lập thành văn bản. Sau khi hoán đổi đất với ông M3 thì ông P2 đã giao phần đất nhận hoán đổi cho vợ chồng ông Tuấn E và bà M quản lý, canh tác đến nay. Đến năm 2003, ông P2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) đối với phần đất ông P2 đã hoán đổi cho ông M3. Đối với đất của ông M3 4.842,4m² thì ông Tuấn A quản lý, canh tác từ trước đến nay nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Năm 2007 ông P2 qua đời (chết). Đến năm 2016 ông Tuấn E phát hiện ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị L làm giấy CNQSDĐ đối với phần đất ông P2 đã được cấp giấy CNQSDĐ nên khiếu nại và phát sinh tranh chấp đến nay. Nay ông Tuấn E và bà M yêu cầu ông C và bà L hoán đổi lại phần đất trước đây ông P2 và ông M3 đã hoán đổi.
Phần đất tranh chấp trước đây Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chổ; đã đo đạc và thẩm định giá tài sản. Đến nay hiện trạng đất không có gì thay đổi so với thời điểm Toà án thẩm định tại chỗ nên nguyên đơn yêu cầu không tiến hành xem xét, thẩm định tại chổ, không đo đạc, không định giá lại tài sản mà sử dụng kết quả xem xét, thẩm định tại chổ, đo đạc, định giá năm 2019 để làm căn cứ giải quyết vụ án.
* Ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị L thống nhất trình bày:
Cha của ông Lê Văn C là ông Lê Văn M3 (ông M3 đã qua đời năm 2018) có một phần đất 09 công tầm lớn, tọa lạc tại ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Năm 2000 M3 có thỏa thuận miệng với ông Lê Văn P2 (cha ruột của ông Lê Tuấn E) hoán đổi một phần diện tích đất với 05 công tầm lớn đất của ông P2 tọa lạc tại ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau để thuận lợi trong việc canh tác. Khi hoán đổi không có làm văn bản. Đến năm 2004 ông M3 giao lại toàn bộ phần đất đã nhận hoán đổi từ ông P2 cho ông C quản lý và canh tác, đến năm 2016 thì phát sinh tranh chấp với ông Tuấn E. Việc nguyên đơn yêu cầu hoán đổi lại đất thì bị đơn không đồng ý vì đã canh tác ổn định, nếu hoán đổi lại thì đất không có đường nước để canh tác. Phần đất nhận hoán đổi đến nay vẫn còn đứng tên của ông P2.
Phần đất tranh chấp trước đây Toà án đã xem xét thẩm định tại chổ; đã đo đạc và thẩm định giá tài sản. Đến nay hiện trạng đất không có gì thay đổi, nguyên đơn yêu cầu không tiến hành xem xét thẩm định tại chổ, không đo đạc, không định giá lại mà sử dụng kết quả xem xét thẩm định tại chổ, đo đạc, định giá năm 2019 để giải quyết vụ án thì ông C và bà L thống nhất.
* Bà Lê Thị M1, bà Lê Thị S, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, ông Lê Văn C1, bà Lê Thị P, ông Lê Tuấn A thống nhất trình bày:
Ông Lê Văn P2 có 08 người con gồm Lê Thị M1, Lê Thị S, Lê Văn N, Lê Thị N1, Lê Văn C1, Lê Thị P, Lê Tuấn A và Lê Tuấn E; Về nguồn gốc đất, diện tích đất, việc cấp giấy CNQSDĐ và sự việc hoán đổi đất đúng như ông Lê Tuấn E trình bày; thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn E và bà M; đồng thời xác định không có liên quan, không có yêu cầu độc lập trong vụ án, không yêu cầu chia thừa kế vì đất trên ông P2 đã tặng cho ông Tuấn E và bà M.
* Bà Nguyễn Thị H, bà Lê Thị M2, bà Lê Thị B thống nhất trình bày:
Về nguồn gốc đất, diện tích đất, việc hoán đổi đất đúng như ông Lê Văn C trình bày; Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn E và bà M; Yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông C và bà L được tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất trước đây ông P2 và ông M3 đã hoán đổi với nhau; Bà H, bà M2 và bà B không có yêu cầu độc lập trong vụ án, không yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất tranh chấp vì đất trên ông M3 đã tặng cho ông C.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 288/2023/DSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt).
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M về việc buộc ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị L chuyển đổi lại cho ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M quyền sử dụng đất diện tích 5.564,5m² tọa lạc tại ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/12/2023 bà Hồ Thị M và ông Lê Tuấn E kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, buộc ông C và bà L đổi lại phần đất đã hoán đổi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 288/2023/DSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn qui định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Xét nguồn gốc các phần đất tranh chấp giữa nguyên và bị đơn, nguồn gốc là của cụ Lê Văn T và cụ Nguyễn Thị B1 khai phá – đất toạ lạc tại ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Cụ T và cụ B1 sử dụng đến trước năm 1990 thì tặng cho lại hai con ruột của các cụ là Lê Văn P2 và Lê Văn M3. Lúc tặng cho thì hình dạng thửa đất tính từ Kênh thủy lợi đi vào là đất của ông M3, sau đó đến đất của ông P2 rồi lại đến đất của ông M3. Năm 2003, ông P2 được cấp giấy CNQSDĐ theo Quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 08/5/2003 của UBND thành phố C. Để thuận lợi cho việc canh tác, ông P2 và ông M3 có chuyển đổi đất cho nhau. Diện tích đất thực tế ông P2 dùng để chuyển đổi với ông M3 là 5.564,5m²; diện tích đất thực tế ông M3 dùng để chuyển đổi với ông P2 là 4.842,4m². Các con của ông P2 và vợ con của ông M3 đều thừa nhận sau khi chuyển đổi đất thì các bên sử dụng ổn định, không tranh chấp.
Các đương sự trình bày việc chuyển đổi được ông P2 và ông M3 tiến hành vào năm 2000 nhưng không có tài liệu chứng minh.
[2.2] Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân thành phố C tại Quyết định số 2048/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 thể hiện: “...Khoảng năm 2004 nhà nước có chủ trương đưa nước mặn vào ruộng để nuôi tôm. Do đất của ông M3 chia làm 02 phần, khó khăn trong việc canh tác, lấy nước để nuôi tôm nên ông P2 và ông M3 bàn bạc hoán đổi cho nhau phần đất thành 02 phần theo hình xẻ xuôi cho dễ nuôi tôm và lấy nước (chỉ thay đổi hình dạng, không thay đổi diện tích). Việc phân chia này có 2 người em ruột của ông P2 và ông M3 là bà Lê Thị N2, bà Lê Thị S1 chứng kiến. Việc chia lại đất có ông Lưu Kha L1, tổ trưởng tổ tự quản ấp 2, xã A, ông Lê Thanh D, ấp đội phó ấp B xã A đứng ra đo đạc, cặm ranh và chứng kiến việc xe cuốc vào cuốc đất phân chia ranh. Ông P2 và ông M3 sử dụng ổn định phần đất đã chia lại, không tranh chấp. Ông P2 qua đời, để lại phần đất nhận chuyển đổi cho con ruột là Lê Tuấn E. Ông M3 qua đời, để lại phần đất nhận chuyển đổi cho con ruột là Lê Văn C.…” (bút lục 86).
[2.3] Về thời hạn chuyển đổi quyền sử dụng đất: Theo lời trình bày của nguyên đơn thì khi đổi đất ông P2 và ông M3 không thỏa thuận thời hạn đổi đất. Nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa ông P2 với ông M3 là tạm thời và có thời hạn. Các bên đã thực hiện thoả thuận trên thực tế trong một thời gian dài; sau khi chuyển đổi đã trực tiếp canh tác và sử dụng ổn định, liên tục, lâu dài và không có tranh chấp; các bên đã thực hiện các quyền của người sử dụng đất đối với thửa đất đã nhận chuyển đổi và không có ý kiến phản đối gì đối với việc sử dụng đất của nhau. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng ông P2 và ông M3 đổi đất cho nhau chỉ là tạm thời là không đúng với thực tế.
[3] Mặc dù việc chuyển đổi đất không tuân thủ về mặt hình thức, không đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng thỏa thuận là thực tế đã xảy ra và hoàn toàn tự nguyện, các bên đã trực tiếp canh tác, sử dụng ổn định, liên tục, lâu dài; việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nêu trên giữa ông P2 với ông M3 không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với điều kiện canh tác của cả ông P2 và ông M3 nên có hiệu lực tại thời điểm giao kết, có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Từ những căn cứ và phân tích, nhận định trên, cũng như để tôn trọng ý chí của ông P2 và ông M3 là những người có quyền sử dụng đất khi hoán đổi, cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 288/2023/DSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
[4] Đề nghị của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Cấp sơ thẩm các đương sự không đặt ra và cũng không đương sự nào kháng cáo.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu.
[8] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 311 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 288/2023/DSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M về việc buộc ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị L chuyển đổi lại cho ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M quyền sử dụng đất diện tích 5.564,5m² tọa lạc tại ấp B, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M phải chịu 300.000 đồng. Ngày 12/4/2023, ông Tuấn E và bà M đã dự nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (biên lai thu số 0003189) được đối trừ, chuyển thu nộp ngân sách nhà nước.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 26/12/2023 ông Lê Tuấn E và bà Hồ Thị M đã nộp án phí phúc thẩm (ông Nguyễn Thanh Đ nộp thay) mỗi người 300.000 đồng, theo các biên lai số 0007844 và 0007845, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hoàng Thị Hải Hà |
Đặng Minh Trung |
Đỗ Cao Khánh |
Bản án số 200/2024/DS-PT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 200/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Việc thoả thuận hoán đổi đất chỉ bằng lời nói, không lập thành văn bản.
