|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 200/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2024
V/v: Tranh chấp xác định cha cho con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Nguyễn Đại Đồng.
Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp xác định cha cho con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 41/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 và Thông báo về việc hoãn phiên toà sơ thẩm số 12/2025/TB-HNGĐ ngày 18/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990.
Nơi thường trú: xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: anh Đỗ Văn T, sinh năm 1994.
Nơi thường trú: đội 18, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đỗ Văn C, sinh năm 1987.
Nơi thường trú: xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
(Tại phiên toà: Nguyên đơn, bị đơn có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
Năm 2008 chị có đăng ký kết hôn với anh Đỗ Văn C, sinh năm 1987 trú tại xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẫn nên từ năm 2020 chị và anh Đỗ Văn C đã sống ly thân, chấm dứt quan hệ sinh lý và ngày 02/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định đã xử cho chị và anh Đỗ Văn C ly hôn. Trong thời gian ly thân với anh Đỗ Văn C, chị có phát sinh quan hệ tình cảm và sinh lý với anh Đỗ Văn T, sinh năm 1994 trú tại thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội nên có 01 con chung tên là cháu Đỗ Xuân T1, sinh ngày 01/3/2024 (tên dự định đặt, theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ).
Căn cứ Bản kết luận giám định ADN số 24T04/25/DNA ngày 24/4/2025 xác định quan hệ huyết thống Cha - Con do Công ty TNHH Đ1 thực hiện giữa anh Đỗ Văn T và cháu Đỗ Xuân T1, kết luận: “Đỗ Văn T có quan hệ huyết thống bố – con với Đỗ Xuân T1, độ tin cậy >99,9999%".
Nay chị yêu cầu đề nghị Tòa án xác nhận, anh Đỗ Văn T là bố đẻ của cháu Đỗ Xuân T1, để chị làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu và các thủ tục khác theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Đỗ Văn T trình bày: anh nhất trí với quan điểm trình bày của chị Nguyễn Thị N. Năm 2022 anh và chị Nguyễn Thị N quen biết, có phát sinh quan hệ tình cảm và sinh lý nên đã sinh 01 con chung là cháu Đỗ Xuân T1 (tên dự kiến đặt), sinh ngày 01/3/2024 (Theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ). Anh đồng ý với Bản kết luận giám định ADN số 24T04/25/DNA ngày 24/4/2025 xác định quan hệ huyết thống Cha - Con do Công ty TNHH Đ1 thực hiện giữa anh và cháu Đỗ Xuân T1.
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, anh xác nhận anh là bố đẻ của cháu Đỗ Xuân T1, đề nghị Tòa án sớm giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn C mặc dù đã được Toà án triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng đều vắng mặt và không có quan điểm trình bày.
Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt anh Đỗ Văn C theo thủ tục chung.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 88, 101 và 102 Luật hôn nhân và gia đình, xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu Đỗ Xuân T1 (tên dự kiến đặt), sinh ngày 01/3/2024 (Theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ) là con đẻ của anh Đỗ Văn T.
Chị Nguyễn Thị N không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N khởi kiện về việc xác định cha cho con, bị đơn là anh Đỗ Văn C có nơi cư trú tại xã H, huyện M, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Văn C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã ly hôn theo Bản án số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Trước đó trong quá trình chung sống, giữa chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Văn C đã xảy ra mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2020, không còn quan tâm đến nhau và chấm dứt quan hệ sinh lý.
Trong thời gian ly thân, chị Nguyễn Thị N có quan hệ tình cảm và sinh lý với anh Đỗ Văn T và mang thai, sinh một cháu trai với tên dự kiến đặt là Đỗ Xuân T1, sinh ngày 01/3/2024 (Theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ).
Tại Bản kết luận giám định ADN số 24T04/25/DNA ngày 24/4/2025 xác định quan hệ huyết thống Cha - Con do Công ty TNHH Đ1 kết luận: “Đỗ Văn T có quan hệ huyết thống bố – con với Đỗ Xuân T1, độ tin cậy >99,9999%”.
Bị đơn anh Đỗ Văn T thừa nhận cháu Đỗ Xuân T1 do chị Nguyễn Thị N sinh ngày 01/3/2024 là con đẻ của anh và đồng ý với Kết luận giám định AND số 24T04/25/DNA ngày 24/4/2025 xác định quan hệ huyết thống Cha - Con do Công ty TNHH Đ1 thực hiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn C không có quan điểm trình bày. Tuy nhiên căn cứ Bản án số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định thể hiện: anh Đỗ Văn C và chị Nguyễn Thị N có 03 con chung là cháu Đỗ Mạnh Q, sinh ngày 22/11/2009; cháu Đỗ Quỳnh A, sinh ngày 25/11/2012 và cháu Đỗ Nhật A1, sinh ngày 26/6/2016, ngoài ra không có con chung nào khác.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định giữa anh Đỗ Văn T và cháu Đỗ Xuân T1 (tên dự kiến đặt), sinh ngày 01/3/2024 (Theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ) có quan hệ huyết thống cha con. Việc chị Nguyễn Thị N yêu cầu xác định anh Đỗ Văn T là bố đẻ của cháu Đỗ Xuân T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đương sự thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 88, 101 và 102 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cụ thể:
Xác định anh Đỗ Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ: đội A, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội là cha đẻ của cháu Đỗ Xuân T1, (tên dự kiến đặt), sinh ngày 01/3/2024 (Theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ).
Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Văn T có quyền liên hệ với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký khai sinh, thay đổi thông tin hộ tịch và các giấy tờ có liên quan đến nhân thân đối với cháu Đỗ Xuân T1, (tên dự kiến đặt), sinh ngày 01/3/2024 (Theo Giấy chứng sinh số seri 1032, quyển số 2024/GCS ngày 01/3/2024 của Bệnh viện Đ) theo quy định.
2. Về án phí: chị Nguyễn Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- - TAND TP. Hà Nội;
- - VKSND huyện Mỹ Đức;
- - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- - Đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Hiệp |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 200/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 200/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
