TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 200/2025/DS-ST
Ngày: 23/5/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Minh Tuấn.
- Ông Vũ Ngọc Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức - Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 569/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Phạm Trường T, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Lầu D - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Là người đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số: 2269/2024/UQ-TT.XLN ngày 06/01/2025).
Bị đơn: Ông Trần Minh H, sinh năm: 1999.
Địa chỉ: B N, Phường B, Quận A, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/05/2023, ông Trần Minh H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 60.000.000 VNĐ với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 250.486.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 194.183.390 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Số tiền nợ còn lại ông H1 không thanh toán dù Ngân hàng đã gửi thư thông báo. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ
Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/03/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 65.192.309 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày 23/05/2025, ông H còn nợ các khoản sau.
Nợ gốc : 65.192.309 đồng
Lãi quá hạn : 35.921.376 đồng
Tổng cộng : 101.113.685 (Một trăm lẻ một triệu, một trăm mười ba nghìn, sáu trăm tám mươi lăm) đồng
Số tiền lãi quá hạn được tiếp tục tính trên số tiền nợ gốc còn lại với lãi suất quá hạn là 3.72%/tháng (2.48% *150%) cho đến khi ông H thanh toán hết nợ gốc.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc ông Trần Minh H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/05/2025 là 101.113.685 (Một trăm lẻ một triệu, một trăm mười ba nghìn, sáu trăm tám mươi lăm) đồng trong đó:
Nợ gốc : 65.192.309 đồng
Lãi quá hạn : 35.921.376 đồng
- Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/05/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Minh H nhưng bị đơn không nộp văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án lần nào. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được do ông H vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, dù đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt xét xử lần 2 hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP S buộc ông Trần Minh H phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 65.192.309 đồng. Về nợ lãi sẽ do Hội đồng xét xử xem xét, tính toán cụ thể kể từ ngày ông H1 vi phạm đến ngày vụ án được đưa ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1 Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn cầu bị đơn ông Trần Minh H trả nợ thông qua giao dịch cấp thẻ tín dụng, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2 Xét Giấy ủy quyền số: 2269/2024/UQ-TT.XLN ngày 06/01/2025 của ông Vũ Minh Q ủy quyền cho ông Phạm Trường T tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.
1.3 Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng ông H không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác, ông H vắng mặt tại phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn ông H vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1 Về tiền gốc:
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng xác định ông Trần Minh H có sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S để tiêu dùng cá nhân
Xét thấy sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trần Minh H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 194.183.390 đồng. Tuy nhiên, ông H không thanh toán đầy đủ nợ gốc cho Ngân hàng. Căn cứ vào Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng TMCP S cung cấp cho thấy tại thời điểm xét xử, ông Trần Minh H còn khoản nợ gốc với Ngân hàng là nợ gốc 65.192.309 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Trần Minh H phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 65,192,309 đồng.
2.2 Về tiền lãi:
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng dụng, ông Trần Minh H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/03/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông H và chuyển toàn bộ số nợ của ông H sang nợ quá hạn. Xét mức lãi suất mà Ngân hàng áp dụng với ông H1 là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ tại Quyết định về việc ban hành biểu phí sản phẩn dịch vụ T1 phát hành tại Việt Nam số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 lãi suất hàng tháng của thẻ tín dụng Visa Platinum Cashback là 2.48%, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn nên có cơ sở chấp nhận mức lãi suất như trên. Theo bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp cho thấy tại thời điểm xét xử, ông H còn khoản nợ lãi quá hạn với Ngân hàng là 35.921.376 đồng.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Minh H phải trả cho Ngân hàng nợ gốc: 65.192.309 đồng; nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/05/2025: 35.921.376 là có căn cứ để chấp nhận
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Minh H phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều Điều 463; Điều 468; khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Xử:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo:
- Trường hợp bản án được thi hành:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Trần Minh H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 101.113.685 (Một trăm lẻ một triệu, một trăm mười ba nghìn, sáu trăm tám mươi lăm) đồng, trong đó nợ gốc 65.192.309 (sáu mươi lăm triệu, một trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm lẻ chín) đồng; Lãi quá hạn tạm tính đến ngày 23/5/2025 là 35.921.376 (ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi mốt nghìn, ba trăm bảy mươi sáu) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng thẻ tín dụng.
Buộc ông Trần Minh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.055.684 (năm triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn, sáu trăm tám mươi bốn) đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.959.492 (một triệu, chín trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm chín mươi hai) đồng theo biên lai thu tiền số: 0020950 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Hiếu Hạnh |
Bản án số 200/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 200/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
