|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 200/2024/HS-PT Ngày: 14 - 11- 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Công Hoàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Duy Hoài |
| Ông Đỗ Mạnh Hùng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 193/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 116/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm: 1965 tại: Quảng Nam. Nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N và con bà Trần Thị T (Cả hai đều đã chết); vợ: Phạm Thị M, sinh năm 1969 (Đã chết); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 06/2011/HSST ngày 28-02-2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị hại không có kháng cáo và không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H là người không có nghề nghiệp, trong năm 2023 đã nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị B và Võ Thị T1 trên địa bàn B. Cụ thể như sau:
Đối với hành vi chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị B: Sau khi quen biết với bà Nguyễn Thị B, khoảng tháng 03-2023 H nhận thấy bà B là người không am hiểu nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà. Để tạo lòng tin, H nói với bà B là mình có quen biết nhiều người bên phường B, thành phố B nên có thể vay vốn tại ngân hàng C số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất thấp và không cần thế chấp tài sản; chi phí để làm hồ sơ hết từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng, hồ sơ vay chỉ cần cung cấp bản photocopy giấy căn cước công dân, trong vòng 20 ngày sẽ được ngân hàng giải ngân số tiền vay. Nghe vậy, bà B đã tin tưởng và đưa cho H số tiền 4.000.000 đồng để nhờ H làm hồ sơ vay vốn. Sau khi nhận tiền H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Tiếp đó, vài ngày sau, H đến nhà bà B, bà B đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhờ H giải thích về hình vẽ ô vuông trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nội dung là gì, H xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nói đây là hình vẽ thể hiện 200m² đất thổ cư trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy bà B lo sợ diện tích đất thổ cư như H nói không đúng với diện tích đất thổ cư thực tế là 400m² được nhà nước cấp. Lúc này, H nhận thấy bà B là người không am hiểu về giấy tờ đất đai nên tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà B. Thực hiện ý định H nói với bà B là H quen biết nhiều người nên có thể giúp bà B làm thủ tục điều chỉnh lại 200m² đất thổ cư bị mất, tin tưởng vào H nên bà B nhờ H lấy lại 200m² đất thổ cư, sau đó chuyển sang thửa đất khác của bà B, đồng thời đổi chữ “Hộ bà: Nguyễn Thị B” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành chữ “Bà: Nguyễn Thị B”. Lúc này, H nói tiền phí để làm trích lục thửa đất trước khi xin lại 200m² đất thổ cư hết 4.000.000 đồng, bà B đồng ý và đã đưa số tiền này cho H. Khoảng 2-3 ngày sau, H đến nhà và nói bà B đưa thêm số tiền 8.000.000 đồng để làm thủ tục thay dòng chữ “Hộ bà: Nguyễn Thị B” thành chữ “Bà: Nguyễn Thị B” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà B đã đưa số tiền này cho H. Tiếp theo đó khoảng 4-5 ngày sau, H đến nhà gặp và nói bà B đưa thêm số tiền 8.500.000 đồng để H làm thủ tục chuyển 400m² đất thổ cư trong 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thành đất thổ cư trong 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà B đã đưa số tiền này cho H.
Tổng số tiền bị can H đã chiếm đoạt của bà B thông qua việc thỏa thuận làm giúp hồ sơ vay vốn ngân hàng C; làm hồ sơ giấy tờ nhà đất 04 lần với số tiền là 24.500.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được H đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết mà không liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân nào để thực hiện công việc đã thỏa thuận với bà B.
Đối với hành vi chiếm đoạt tiền của bà Võ Thị T1: Do có quen biết với bà Võ Thị T1 làm nghề buôn bán hàng tạp hóa nên vào khoảng tháng 4-2023, H đi đến nhà bà T1 ở địa chỉ: số A đường A, phường B, thành phố B để chơi, tại đây bà T1 nói với H về việc cha bà cho đất nhưng do diện tích nhỏ (4x12m) nên không làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nghe vậy H nói có quen biết nhiều người có thể giúp bà T1 làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, H gọi điện hẹn bà T1 đến quán C1 tại Quốc lộ B, phường B để nói chuyện, tại đây H nói sẽ giúp bà T1 tách thửa và làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất nêu trên và nói bà T1 chỉ cần bản photocopy Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất, chứng minh nhân dân của bà T1 thì H sẽ làm được; để tạo sự tin tưởng H đã đưa cho bà T1 mẫu đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nói bà T1 ghi thông tin vào đó và ký tên; H nói sẽ tách diện tích đất 4m x 12m nêu trên theo dạng đất nông nghiệp, rồi sau đó mới điều chỉnh lên thổ cư và chi phí hết 13.000.000 đồng. Bà T1 tin tưởng nên đã đưa cho H số tiền 13.000.000 đồng, bản photocopy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng minh nhân dân của bà T1 để H làm các thủ tục như đã thỏa thuận. Một thời gian sau, H đến cửa hàng bán tạp hóa gặp bà T1 và nói tiền chuyển lên đất thổ cư là 1.000.000đồng/m² nên yêu cầu bà T1 đưa cho H số tiền 100.000.000 đồng để H làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thổ cư. Do tin tưởng nên bà T1 đã chuyển tiền vào tài vào số tài khoản 64210000772557 của H và nhiều lần đưa tiền mặt cho H trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2023 với số tiền 100.000.000 đồng. Ngoài ra, H còn gặp bà T1 và nói do nhà bà T1 xây chưa có giấy phép xây dựng nên phải đóng số tiền 17.000.000 đồng để H xin cấp giấy phép xây dựng, từ đó mới đủ điều kiện làm hồ sơ tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tin tưởng lời H nên bà T1 đã đưa số tiền 17.000.000 đồng cho H. Như vậy, tổng số tiền H chiếm đoạt của bà T1 thông qua thỏa thuận làm giấy tờ đất gồm chuyển khoản 08 lần và 03 lần đưa tiền mặt là 130.000.000 đồng. Số tiền này H đã sử dụng vào việc khám chữa bệnh và tiêu xài cá nhân hết mà không liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân nào để thực hiện như đã thỏa thuận với bà T1.
Về trách nhiệm dân sự: Cho đến hiện tại H mới hoàn trả cho bà B được số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền 19.500.000 đồng chiếm đoạt còn lại của bà B và số tiền 130.000.000 đồng chiếm đoạt của bà Võ Thị T1 đến nay chưa khắc phục.
Bản cáo trạng số: 111/CT-VKS ngày 22-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị can Lê Văn H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 116/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Lê Văn H 04 (Bốn) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30-8-2024 bị cáo Lê Văn H kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn H giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và xử phạt mức án 04 năm 06 tháng tù là phù hợp. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn H khai nhận hành vi phạm của mình như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại; phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ kết luận:
Khoảng thời gian từ tháng 3-2023 đến tháng 8-2023 trên địa bàn thành phố B. Lợi dụng mối quan hệ quen biết; sự thiếu am hiểu pháp luật của bà Nguyễn Thị B, Võ Thị T1, bị cáo Lê Văn H đã đưa ra thông tin gian dối có nhiều mối quan hệ nên có thể làm hồ sơ vay vốn ngân hàng C và làm các thủ tục liên quan đến giấy tờ nhà đất, làm cho bà Nguyễn Thị B, Võ Thị T1 tin tưởng đưa tiền để làm các thủ tục này giúp, sau đó chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân. Cụ thể: đã 04 lần chiếm chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị B với tổng số tiền là 24.500.000 đồng; 11 lần chiếm đoạt tiền của bà Võ Thị T1 với tổng số tiền là 130.000.000 đồng. Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân không có nghề nghiệp, thực hiện hành vi lừa đảo làm nguồn sống chính, trong đó tài sản chiếm đoạt của bị hại có trị giá trị 154.500.000 đồng. Do đó, Tòa án ấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, khi quyết định hình phạt, Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Bị cáo thuộc trường hợp nhân thân xấu, bị áp dụng 02 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự để định tội danh như đã phân tích; có thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên đã quyết định mức mức án 04 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là là có căn cứ và phù hợp.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo nhưng không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới; bị cáo không đủ điều kiện để cho hưởng án treo. Trong khi đó, cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và mức phạt tù áp dụng đối với bị cáo như đánh giá đã phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ra tại phiên tòa phúc thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo bị cáo Lê Văn H và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
Tuyên xử:
- Về tội phạm và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Lê Văn H 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 200/2024/HS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 200/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án ST
