|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 200/2024/HS-ST Ngày: 08-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Nam Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lại Hữu Tâm.
- Bà Phan Thị Dòn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 217/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Đinh Hoàng V, sinh năm:1987 tại tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam;
nơi đăng ký thường trú: TDP N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn D và bà Đinh Thị Kim L; bị cáo có vợ tên Lê Thị Mỹ T1 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 30/11/2012, bị Toà án nhân dân Quận 12 xử phạt 09 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" theo Bản án số 288/2012/HSST. Ngày 25/6/2013, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 01/11/2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định đình chỉ thi hành án đối với 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.785.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Ngày 18/08/2017, bị Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 40/2017/HSST. Ngày 10/05/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Đã đóng án phí vào ngày 06/11/2017.
- + Ngày 19/11/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 244/2019/HS-ST. Ngày 13/05/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Trong giấy ra trại của V ghi nhận V không còn phải chấp hành hình phạt bổ sung nào khác.
- + Ngày 24/8/2023, bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 659/QĐ-TA.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Lê Thị H (M), sinh năm: 1977 (có mặt).
Địa chỉ: A/C tổ G, ấp E, xã V1, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1999; địa chỉ: Thôn F, xã Q, huyện Q1, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Văn T2; địa chỉ: Thôn I, xã Q, huyện Q1, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/5/2023, Phạm Đinh Hoàng V đến nhà chị Lê Thị H tại địa chỉ A/C TỔ G, Ấp E, xã V1, huyện B xin làm thuê thì chị H đồng ý cho V làm thử việc tại nhà chị H. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, V đang làm việc tại nhà chị H thì phát hiện có 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số 37L2-477.95 để phía sau nhà. V liền nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của chị H. V lợi dụng chị H không để ý thì lấy 01 chùm chìa khóa của chị H để trên bàn tại phòng khách trong nhà gồm có chìa khóa xe và chìa khóa dây xích bánh xe. Tiếp đó, V đi ra phía sau nhà lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô biển số 37L2-477.95 của chị H rồi bỏ trốn. Do nợ tiền của T3 (không rõ lai lịch) nên V gán nợ xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số 37L2-477.95 cho T3 (hiện không thu hồi được chiếc xe này).
Đến ngày 02/06/2023, chị Lê Thị H đến Công an xã V1, huyện B để trình báo vụ việc. Cơ quan Công an tiến hành mời Phạm Đinh Hoàng V về trụ sở làm việc thì V thừa nhận đã lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số 37L2-477.95 của chị H như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 2088/KL-HĐĐGTS ngày 17/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: 01 chiếc xe môtô biển số 37L2-477.95 có giá trị là 11.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Phạm Đinh Hoàng V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai này phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản thu giữ camera tại nhà của chị H ghi lại toàn bộ sự việc, hình ảnh trích xuất từ camera ghi nhận vụ việc, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án: 01 USB có dữ liệu camera ghi nhận lại sự việc (lưu cùng hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị H yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 37L2-477.95 hoặc bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 218/CT-VKBCS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Đinh Hoàng V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa,
- - Bị hại Lê Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng Ny khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Buộc bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng cho bị hại.
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ 01 USB có dữ liệu camera ghi nhận lại sự việc.
- - Bị cáo Phạm Đinh Hoàng V khai nhận hành vi như trên, đồng ý có trách nhiệm bồi thường số tiền 11.000.000 đồng cho bị hại và bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và sự vắng mặt của bà N, ông T2 không gây trở ngại, ảnh hưởng cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo trình tự, thủ tục chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Đinh Hoàng V thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số 37L2-477.95 của bà Lê Thị H tại địa chỉ A1B/30 Tổ 1, Ấp 1B, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại, qua định giá là 11.000.000 (Mười một triệu) đồng.
[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Đinh Hoàng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân rất xấu, do đó Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: Tiếp tục lưu trong hồ sơ 01 USB có dữ liệu camera ghi nhận lại sự việc.
[8] Đối với người thanh niên tên T3 (không rõ lai lịch): Do V thiếu tiền T3 nên gán chiếc xe môtô biển số 37L2-477.95 cho T3. Hiện T3 đi đâu không rõ, khi nào tìm được T3 sẽ điều tra, làm rõ, xử lý sau.
[9] Về dân sự: Hội đồng xét xử xét thấy nguồn gốc xe môtô biển số 37L2-477.95 do bà Nguyễn Thị N đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà N có lời khai xe này bà giao cho người em là Nguyễn Văn T2 cầm cố tại cửa hàng cầm đồ với giá là 13.000.000 đồng, do bà N không có tiền chuộc lại xe nên chấp nhận cho chủ tiệm cầm đồ bán xe cho người khác, bà N xác định hiện không còn là chủ sở hữu xe mô tô biển số 37L2-477.95. Bà Lê Thị H là người mua lại chiếc xe trên từ cửa hàng cầm đồ nhưng không là thủ tục đăng ký chuyển tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe.
[9.1] Hội đồng xét xử xét thấy xe môtô biển số 37L2-477.95 hiện không thu hồi được, căn cứ kết luận định giá tài sản số 2088/KL-HĐĐGTS ngày 17/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: 01 chiếc xe môtô biển số 37L2-477.95 có giá trị là 11.000.000 đồng;
[9.2] Tại phiên tòa, bị hại Lê Thị H yêu cầu bị cáo V bồi thường giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt là 11.000.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên theo cách thức bồi thường Ny một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Xét sự thỏa thuận về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại phù hợp với quy định tại các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 550.000 (Năm trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và chấp nhận đề nghị của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 38, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Đinh Hoàng V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 357, 468, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bị cáo Phạm Đinh Hoàng V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lê Thị H số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng; bồi thường Ny một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo V không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ 01 USB có dữ liệu camera ghi nhận lại sự việc.
- Căn cứ theo Điều 136 của bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Nam Phương |
Bản án số 200/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 200/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 38, khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Đinh HV 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/02/2024.
