TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 200/2024/DS-PT Ngày 15 - 11 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Bà Huỳnh Ái Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và tại điểm cầu Thành phần là Toà án nhân dân thị xã D, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã mở phiên tòa xét xử công khai theo hình thức trực tuyến đối với vụ án vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 242/2024/TLPT-DS ngày 17/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 126/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Duy K, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1973, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Tú H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; văn bản ủy quyền ngày 20/4/2024, có mặt.
2. Bà Lê Thị M, sinh năm 1974, có mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người kháng cáo: Bà Lê Thị M là bị đơn trong vụ án.
* Ngoài ra, còn có sự tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu:
- - Điểm cầu trung tâm có ông Nguyễn Tấn Đạt – Cán bộ kỹ thuật của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh;
- - Điểm cầu thành phần có bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024 của nguyên đơn Võ Duy K và lời trình bày của người đại diện cho anh K có nội dung và yêu cầu như sau:
Ngày 13/11/2018 giữa hộ kinh doanh T với vợ chồng ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M có ký hợp đồng thỏa thuận mua bán thức ăn thủy sản với nhau. Theo hợp đồng, hộ kinh doanh T bán thức ăn để vợ chồng ông H1 nuôi tôm, sau khi thu hoạch tôm thì vợ chồng ông H1 bà M phải có trách nhiệm trả hết công nợ phát sinh của vụ nuôi cho hộ kinh doanh T. Ngày 13/11/2018 ông bà bắt đầu lấy hàng của hộ kinh doanh T về nuôi tôm nhưng sau một khoảng thời gian nuôi tôm, sau khi thu hoạch tôm ông bà đã không thanh toán hết nợ phát sinh của vụ nuôi cho hộ kinh doanh T, hộ kinh doanh T đã hỗ trợ bán thức ăn thêm những vụ nuôi mới cho ông bà nhưng ông bà vẫn không thanh toán được dẫn đến công nợ ngày càng cao, hộ kinh doanh T không thể tiếp tục bán cho ông bà nữa. Công nợ mà ông bà thiếu hộ kinh doanh T đến thời điểm ngưng giao dịch là 122.923.000 đồng. Hộ kinh doanh T cũng cho ông bà thời gian để thanh toán công nợ còn thiếu cho hộ kinh doanh T, nhưng từ ngày hai bên ngưng giao dịch đến thời điểm hiện tại ông bà chỉ thanh toán cho hộ kinh doanh T số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), công nợ hiện tại ông bà còn nợ hộ kinh doanh T là 120.923.000 đồng, hộ kinh doanh T cũng cho nhân viên xuống làm việc với ông bà để ông bà đưa ra lộ trình thanh toán, ông bà chỉ hứa hẹn nhưng cũng không thanh toán thêm số tiền nào cho hộ kinh doanh T. Hành vi của ông bà đã vi phạm hợp đồng, vi phạm cam kết gây thiệt hại cho hộ kinh doanh T.
Nay nguyên đơn Võ Duy K là chủ hộ kinh doanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M liên đới trả số tiền còn nợ là 120.923.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 31/03/2021 đến ngày 30/6/2024 (39 tháng) với lãi suất 0,83%/tháng, số tiền lãi là 39.143.000 đồng.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M:
Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, mặc dù được Toà án cấp sơ thẩm tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản khác cho phía bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M hợp lệ nhưng ông bà vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai, tài liệu gì cho Toà án xem xét.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18 tháng 07 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 244 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 430 và 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Duy K.
Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M phải liên đới trả cho ông Võ Duy K số tiền 160.066.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất phát sinh do chậm thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 02 tháng 08 năm 2024, bà Lê Thị M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc ông H1 và bà M phải trả số tiền lãi phát sinh bằng 39.143.000đồng.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn bà Lê Thị M không rút yêu cầu kháng cáo; đương sự vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm không có gởi cho Toà án ý kiến nào khác so với ý kiến ở cấp sơ thẩm có trong hồ sơ vụ án;
Các đương sự có mặt tại phiên toà đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Cụ thể nội dung thoả thuận như sau: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M phải liên đới trả cho ông Võ Duy K số tiền bằng 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Trong đó:
Vốn gốc: 120.000.000 đồng
Lãi phát sinh: 20.000.000 đồng (tính đến ngày xét xử phúc thẩm 15/11/2024).
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn: Qua các tài liệu có trong hồ sơ, đơn kháng cáo của bà Lê Thị M và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy: việc bà Lê Thị M yêu cầu sửa án sơ thẩm, không buộc vợ chồng bà phải trả tiền lãi phát sinh là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, sau khi đối chiếu công nợ vào ngày 31/03/2021 thì vợ chồng bà M cũng không trả nợ cho anh Võ Duy K. Do vậy, việc Toà án xét xử buộc bị đơn phải trả lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, qua phân tích của Hội đồng xét xử phúc thẩm, để tạo điều kiện cho bà M và ông H1 trả nợ nên đại diện cho nguyên đơn đồng ý nhận số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Trong đó: Vốn gốc bằng 120.000.000 đồng và lãi phát sinh bằng 20.000.000 đồng (tính
đến ngày xét xử phúc thẩm ngày 15/11/2024). Xét thấy việc thoả thuận trên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự, ghi nhận sự thoả thuận trên; về án phí dân sự sơ thẩm: buộc bị đơn phải chịu trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18 tháng 07 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh theo hướng công nhận nội dung thoả thuận của các đương sự nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị M là còn trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung vụ án, kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo biên bản đối chiếu xác nhận công nợ giữa hộ kinh doanh T (bên bán) và ông Nguyễn Văn H1, bà Lê Thị M (bên mua) vào ngày 31/03/2021, thì ông Nguyễn Văn H1, bà Lê Thị M (bên mua) còn nợ bên bán số tiền 122.923.000 đồng. Sau khi đối chiếu và xác nhận công nợ thì phía ông H1 và bà M chỉ thanh toán số tiền 2.000.000 đồng, số còn lại chưa thanh toán cho hộ kinh doanh T (bên bán), do đó việc hộ kinh doanh T (bên bán) khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H1, bà Lê Thị M (bên mua) phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ và phần lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ là đúng theo quy định pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền “ 1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo sự thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của bộ luật này, nếu không thoả thuận được thì được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Cấp sơ thẩm đã áp dụng và tính theo mức lãi suất 0,83%/tháng là không vượt quá mức quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Tính từ ngày 31/03/2021 đến ngày 31/6/2024 (39 tháng) là: 120.923.000 đồng x 0,83%/tháng x 39 tháng = 39.142.740 đồng, nên cấp sơ thẩm buộc ông H1 và bà M phải trả lãi cho hộ kinh doanh T (bên bán) số tiền lãi bằng 39.143.000 đồng là có căn cứ.
Tuy nhiên, qua sự vận động của Hội đồng xét xử phúc thẩm, đại diện cho nguyên đơn đồng ý nhận số tiền bằng 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu
đồng). Trong đó: Vốn gốc bằng 120.000.000 đồng và lãi phát sinh bằng 20.000.000 đồng (tính đến ngày xét xử phúc thẩm ngày 15/11/2024). Xét thấy việc thoả thuận trên là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận trên.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do số tiền ông H1 và bà M phải có nghĩa vụ trả cho hộ kinh doanh T bằng 140.000.000 đồng, nên án phí buộc ông H1 và bà M phải chịu bằng 7.000.000 đồng (140.000.000 đồng x 5% = 7.000.000 đồng), nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự;
Ông Võ Duy K không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho ông Võ Duy K số tiền tạm ứng án phí bằng 4.102.000 đồng (Bốn triệu một trăm lẻ hai nghìn), theo biên lai thu tiền số 0003861 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, trường hợp đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm thì người kháng cáo phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Xét bà Lê Thị M không thuộc trường hợp được miễn án phí nên buộc bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012772 ngày 06/08/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự theo hướng công nhận nội dung thoả thuận của các đương sự là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng năm 2015; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị M
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa đại diện nguyên đơn với bị đơn tại phiên toà phúc thẩm;
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 18 tháng 07 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Duy K.
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa đại diện nguyên đơn với bị đơn tại phiên toà phúc thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M phải liên đới trả cho ông Võ Duy K số tiền bằng 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Trong đó:
- - Vốn gốc: 120.000.000 đồng
- - Lãi phát sinh: 20.000.000 đồng (tính đến ngày xét xử phúc thẩm 15/11/2024).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lê Thị M phải chịu số tiền bằng 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự.
Hoàn trả cho ông Võ Duy K số tiền tạm ứng án phí bằng 4.102.000 đồng (Bốn triệu một trăm lẻ hai nghìn), theo biên lai thu tiền số 0003861 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012772 ngày 06/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Châu |
Bản án số 200/2024/DS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 200/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Võ Duy Kh với Nguyễn Văn H
