Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 200/2024/DS-PT

Ngày: 16 - 4 - 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

  • - Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

    Bà Nguyễn Thị Thanh

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 534/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 1094/2023/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Khánh V, sinh năm 1985; Trú tại: A T, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Cao Thị L, sinh năm 1979; Trú tại: G Đường A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

    (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/10/2018).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952; Trú tại: Số A Đường B, KP2, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1984; Trú tại: A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

    (Theo Giấy ủy quyền ngày 28/11/2017).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1950; Trú tại: Số A, Đường số B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

      Người đại diện theo ủy quyền của bà A: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1984; Trú tại: A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

      (Theo Giấy ủy quyền ngày 02/7/2018).

    2. Ông Trần Văn M, sinh năm 1963 (vắng mặt)

    3. Bà Lý Thị Ngọc T, sinh năm 1966 (vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: Số B (số mới B) đường T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    4. Bà Võ Thị X, sinh năm 1953; Địa chỉ: Số B đường N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

    5. Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở: Số A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Ú, Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T (vắng mặt)

      (Theo Giấy ủy quyền số 6318/UBND-GUQ ngày 08/10/2022).

    6. Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số C đường C, ấp B, phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

  4. Người làm chứng: Bà Võ Thị E, sinh năm 1960; Trú tại: 1 đường số D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

  5. Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Võ Khánh V có bà Cao Thị L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào năm 2007, bà Trần Đ là bà ngoại của ông Võ Khánh V có cho ông V một khoản tiền để nhận chuyển nhượng căn nhà số C Đường C, khu phố B, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T. Nhà đất đã được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 ngày 06/10/2003 cho ông M, bà T. Ngày 11/7/2007 bà Đ đứng ra thay ông V ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy tay với ông M, bà T; giá nhận chuyển nhượng là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng. Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng, do ông M, bà T cho biết có dự định sẽ đi nước ngoài nên thỏa thuận với bà Đ rằng ông M, bà T sẽ ủy quyền lại cho bà Võ Thị E, là mẹ của ông V, để bà E thay mặt ông M, bà T đứng ra ký hợp đồng tặng cho nhà đất cho ông V để hoàn tất thủ tục sang tên cho ông V theo quy định pháp luật. Ngày 13/8/2007, ông M, bà T ký hợp đồng ủy quyền cho bà E. Ngày 05/8/2008, bà E thay mặt ông M, bà T ký hợp đồng tặng cho nhà đất cho ông V. Ngày 18/8/2008, Ủy ban nhân dân Quận B2 đã cập nhật biến động sang tên chủ sở hữu nhà đất cho ông V. Ông M, bà T đã bàn giao nhà đất cho ông V theo thỏa thuận. Trước khi nhận chuyển nhượng, ông V cùng bà Đ, bà E có đi khảo sát nhà đất thì trên đất không có bất kỳ ngôi mộ nào, trong Giấy chứng nhận mà Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp cho ông M, bà T cũng không thể hiện trên đất có mộ.

Sau đó ông V đi du học, nhà đất để trống, không có ai sử dụng. Đến năm 2013, khi ông V trở về Việt Nam thì phát hiện có ba ngôi mộ chắn ngang lối đi vào nhà của ông. Qua tìm hiểu, ông V được biết ông Nguyễn Văn C đã tự ý xây ba ngôi mộ của gia đình ông C trên phần đất của ông V.

Do đó ông V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông Nguyễn Văn C trả lại phần đất đã lấn chiếm có diện tích 11,1m² cho ông V. Phần đất 11,1m² thuộc một phần nhà đất tọa lạc tại số C đường C, ấp B, phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, đã được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T và cập nhật biến động sang tên chủ sở hữu cho ông V ngày 18/8/2008.

Phần đất diện tích 11,1m² có ký hiệu số (7) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/4/2019.

Ngày 17/01/2019, ông V có đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông Nguyễn Văn C phải di dời 03 ngôi mộ ra khỏi phần đất nêu trên, trả lại hiện trạng đất trống diện tích 11,1m² cho ông V.

Nguyên đơn không biết hiện nay ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T đang ở đâu và cũng không biết bà Võ Thị X là ai nên không cung cấp được địa chỉ của những người đó.

Nguyên đơn xác định đang tranh chấp phần đất có ký hiệu (7) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 08/4/2019 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Nguyên đơn xác định hiện trạng vị trí vẫn theo Bản vẽ, không có thay đổi hiện trạng và không yêu cầu đo vẽ, định giá lại phần đất tranh chấp này. Hiện nay trên phần nhà đất này chỉ có bà Đỗ Thị Y đang cư trú.

Nguyên đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn vì phần đất này nguyên đơn đã được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp giấy chứng nhận đúng theo quy định pháp luật.

Giá trị thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 2908002/2022/CT-SGL ngày 06/9/2022 của Công ty TNHH MTV T1 là cao so với giá thị trường. Tuy nhiên phía nguyên đơn không yêu cầu thẩm định giá lại.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Thanh B là người đại diện theo ủy quyền cùng trình bày:

Cụ cố của bị đơn là cụ Nguyễn Thị M1 có tạo lập được thửa đất 89-10 tờ bản đồ số 6, có diện tích 2.247m² theo Giấy chứng nhận của Ty điền địa S cấp ngày 14/4/1973. Sau đó cụ M1 chia đất cho 05 người con và bà Trần Thị M2 là con cụ M1 được chia hơn 500m² đất, bà M2 đã quản lý, sử dụng từ trước năm 1975, dùng làm đất thổ mộ. Một phần trên khu đất này có 13 ngôi mộ thuộc thân nhân gia tộc. Năm 1974, bà M2 mất. Ông Nguyễn Văn C là con của bà M2 tiếp tục quản lý, sử dụng.

Năm 1990 ông C và chị gái là bà Nguyễn Thị A có ký giấy cam kết cho bà Võ Thị X, sinh năm 1953, ngụ tại 2 N, Phường I, Quận A, một phần đất trống, không có mộ, có diện tích 150m²; trên thực tế là ông C và bà A bán phần đất cho bà X với giá 10 chỉ vàng. Phần đất của gia đình ông C, bà A còn lại hơn 350m² vẫn dùng làm đất thổ mộ.

Sau đó ông C phát hiện bà X đã bán 1/2 phần đất có diện tích là 75m² cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T và bán 1/2 phần đất có diện tích 75m² còn lại cho bà Nguyễn Thị Kim K, địa chỉ là số E Đường C, khu phố B, phường B, Quận B.

Mặc dù chỉ mua của bà X phần đất có 75m² nhưng ông M, bà T lại kê khai và được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp giấy chứng nhận với phần đất có diện tích 273,4m², bao gồm cả một nửa khu mộ gia tộc và toàn bộ phần đất trống còn lại của gia đình ông C, bà A. Sau đó, ông M, bà T đã làm hợp đồng tặng cho phần đất cho ông Võ Khánh V.

Vị trí phần đất ông M, bà T mua của bà X theo đo đạc thực tế có diện tích 74,5m² được ký hiệu số (1), (2), (3) tại Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 08/4/2019 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập. Còn toàn bộ phần đất còn lại trên giấy chứng nhận của ông M, bà T theo đo đạc thực tế có diện tích 198,9m² được ký hiệu số (4), (7), (8), (9), (10), (12), (13), (14), (15) tại Bản đồ hiện trạng là của gia đình ông C, bà A.

Trên phần đất ông V được cấp chứng nhận có 03 ngôi mộ của gia đình ông C. Cụ thể: Mộ của ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1909, mất năm 1981 là cha ruột của ông C, bà A; Mộ bà Trần Thị S, sinh năm 1905, mất năm 1984, là bà dì ruột của ông C, bà A; Mộ bà Trần Thị B1, chết năm 1979, là dì ruột của ông C, bà A. Ba ngôi mộ trên được chôn cất trên đất này ngay tại thời điểm các ông bà trên mất, từ đó đến nay đã hơn 40 năm. Ông C cung cấp giấy chứng tử của ông Nguyễn Văn N, bà Trần Thị S, không cung cấp được giấy chứng tử của bà Trần Thị B1.

Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 28/01/2018, bị đơn có đơn phản tố, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Công nhận phần đất có diện tích 198,9m² trong tổng diện tích 273,4m² thuộc một phần thửa 45, Tờ bản đồ số 4 trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T, cập nhật biến động ngày 18/8/2008 cho ông Võ Khánh V - là của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị A, là hàng thừa kế của bà Trần Thị M2.

    Phần đất diện tích 198,9m² có ký hiệu (4), (7), (8), (9), (10), (12), (13), (14), (15) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 08/4/2019 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập.

  • - Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T, cập nhật biến động ngày 18/8/2008 cho ông Võ Khánh V.

Bị đơn chỉ biết địa chỉ của bà Võ Thị X là số B N, Phường I, Quận A, căn cứ theo địa chỉ lúc bán đất. Hiện nay có đổi địa chỉ mới hay không thì bị đơn không biết. Ngoài ra, bị đơn cũng không biết địa chỉ cư trú hiện nay của ông Trần Văn M và bà Lý Thị Ngọc T.

Đối với chi phí đo vẽ, thẩm định giá mà bị đơn đã tạm ứng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Ông M và bà T ủy quyền cho bà Võ Thị E để ký hợp đồng tặng cho cho ông V là không ngay tình, vì bà E là mẹ ruột của ông V. Bị đơn không có ý kiến về việc chuyển nhượng nhà đất giữa ông M, bà T và ông V.

Thống nhất kết quả theo Chứng thư thẩm định giá số 2908002/2022/CT-SGL ngày 06/9/2022 của Công ty TNHH MTV T1 ghi nhận nêu trên làm cơ sở giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị A có ông Nguyễn Thanh B là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Thị A thống nhất với lời trình bày và yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn C. Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn C là chị em ruột, cùng được thừa hưởng từ mẹ là bà Trần Thị M2 một phần đất tọa lạc tại B, nguyên là phần mộ gia tộc. Sau năm 1975, Nhà nước có chỉ thị không được chôn cất trên phần đất nữa nên còn khoảng 150m² đất trống.

Ngày 17/6/1990, bà A cùng ông C ký bán cho bà Võ Thị X bằng giấy tay có xác nhận của chính quyền địa phương 150m² đất trống trên. Khi tiến hành giao dịch không có đo vẽ nhưng các bên mặc nhiên xác nhận phần đất này là đất trống, không có mộ ở trên đất...

Ba ngôi mộ nằm trên phần đất mà ông V đang tranh chấp gồm mộ của dì ruột - bà Trần Thị B1, xây từ năm 1979, mộ của ông Nguyễn Văn N là cha ruột, xây từ năm 1981, mộ của dì ruột - bà Trần Thị S, xây từ năm 1984. Điều này chứng tỏ Ủy ban nhân dân Quận B2 đã cấp giấy chứng nhận cho ông V bao gồm cả phần đất mộ của gia đình bà A, ông C.

Thống nhất kết quả theo Chứng thư thẩm định giá số 2908002/2022/CT-SGL ngày 06/9/2022 của Công ty TNHH MTV T1 ghi nhận nêu trên làm cơ sở giải quyết vụ án.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T, bà Võ Thị X: Vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định.

* Ông Nguyễn Văn Ú là người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh: có đơn xin vắng mặt. Tại Văn bản ngày 20/10/2022, ông Nguyễn Văn Ú trình bày: Về nội dung tranh chấp của đương sự, Ủy ban nhân dân Quận B2 đã có Công văn số 2401/UBND-TNMT ngày 02/7/2018 và Công văn số 3021/UBND-TNMT ngày 09/8/2018 trả lời cho Tòa án. Đề nghị Tòa án giải quyết theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Y tại bản tự khai ngày 01/11/2022 trình bày:

Tháng 11/2017 bà có mượn căn nhà tại số C Đường C, khu phố B, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Võ Khánh V để mở quán ăn. Do là họ hàng nên ông V cho mượn bằng lời nói, không lập văn bản và không có thu tiền. Bà Y không liên quan đến tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn. Bà xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Người làm chứng bà Võ Thị E trình bày:

Vào năm 2007 mẹ ruột bà E là bà Trần Đ có cho con bà E là ông Võ Khánh V một khoản tiền để nhận chuyển nhượng căn nhà số C Đường C, khu phố B, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T. Nhà đất đã được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 ngày 06/10/2003 cho ông M, bà T. Ngày 11/7/2007 bà Đ đứng ra thay ông V ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy tay với ông M, bà T; giá nhận chuyển nhượng là 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng. Ngay khi ký hợp đồng, bà Đ đã đặt cọc 600.000.000 đồng và sau đó bà Đ đã thanh toán đủ số tiền còn lại cho ông M, bà T. Ông M, bà T đã giao nhà đất cho ông V.

Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng, do ông M, bà T cho biết có dự định sẽ đi nước ngoài nên thỏa thuận với bà Đ rằng ông M, bà T sẽ ủy quyền lại cho bà Võ Thị E, là mẹ của ông V, để bà E thay mặt ông M, bà T đứng ra ký hợp đồng tặng cho nhà đất cho ông V để hoàn tất thủ tục sang tên cho ông V theo quy định pháp luật. Ngày 13/8/2007, ông M, bà T ký hợp đồng ủy quyền cho bà E. Ngày 05/8/2008, bà E thay mặt ông M, bà T ký hợp đồng tặng cho nhà đất cho ông V. Ngày 18/8/2008, Ủy ban nhân dân Quận B2 đã cập nhật biến động sang tên chủ sở hữu nhà đất cho ông V. Trước khi nhận chuyển nhượng, ông V cùng bà Đ, bà E có đi khảo sát nhà đất thì trên đất không có bất kỳ ngôi mộ nào, trong Giấy chứng nhận mà Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp cho ông M, bà T cũng không thể hiện trên đất có mộ.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số : 1094/2023/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ vào Điều 34, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 158, 163, 166, 221 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 1 của Luật Đất đai năm 1987, Điều 2 của Luật Đất đai năm 1993, các Điều 10, 49, 50, 52 của Luật Đất đai năm 2003;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Khánh V:

    Buộc ông Nguyễn Văn C phải di dời 03 (ba) ngôi mộ, trả lại hiện trạng phần đất trống có diện tích 11,1m² cho ông Võ Khánh V. Phần đất 11,1m² có ký hiệu số (7) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 08/4/2019, thuộc một phần nhà đất tọa lạc tại số C đường C, ấp B, phường B, Quận B nay là phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T và cập nhật biến động sang tên chủ sở hữu cho ông V ngày 18/8/2008.

    Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Khánh V hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn C số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để làm chi phí di dời 03 (ba) ngôi mộ.

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn C về việc:

    • - Hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T, cập nhật biến động sang tên chủ sở hữu ngày 18/8/2008 cho ông Võ Khánh V.

    • - Công nhận phần đất có diện tích 198,9m² trong tổng diện tích 273,4m² thuộc một phần thửa 45, tờ bản đồ số 4 trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1615/2003 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T, cập nhật biến động ngày 18/8/2008 cho ông Võ Khánh V - là của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị A. Phần đất diện tích 198,9m² có ký hiệu (4), (7), (8), (9), (10), (12), (13), (14), (15) theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 08/4/2019 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 09/7/2023, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị A có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:

Chứng cứ tại hồ sơ thể hiện trên đất tranh chấp có 03 ngôi mộ, việc tồn tại 03 ngôi mộ này từ thời điểm nào chưa được cấp sơ thẩm thu thập làm rõ. Việc làm rõ nội dung này có ý nghĩa rất lớn đến việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn đề nghị được giám định để làm rõ nội dung này.

Đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để thu thập và giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị A kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở kết luận:

Nguyên đơn ông Võ Khánh V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn C phải di dời 03 ngôi mộ, hiện đang tồn tại trên phần đất có diện tích 11,1m², thuộc một phần thửa đất số 45, tờ bản đồ số 4, có tổng diện tích 273,4m², tọa lạc tại số C, đường số C, ấp B, phường B, Quận B (nay là thành phố T) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1651/2003 ngày 06/10/2003 của Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T, cập nhật sang tên cho ông Võ Khánh V ngày 18/8/2008, để trả lại cho ông V phần đất có diện tích 11,1m².

Bị đơn ông Nguyễn Văn C phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 198,9m², thuộc một phần diện tích 273,4m² của thửa 45. Đồng thời, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1651/2003 ngày 06/10/2003 của Ủy ban nhân dân Quận B2, đã cập nhật sang tên cho ông Võ Khánh V ngày 18/8/2008.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện:

  1. Về nguồn gốc sử dụng đất của ông Võ Khánh V:

    Ngày 17/6/1990, bà Nguyễn Thị A, ông Nguyễn Văn C cùng lập Tờ cam kết cho bà Võ Thị X phần diện tích đất 150m², được Ủy ban nhân dân xã A và Ủy ban nhân dân Phường D, Quận A xác nhận; Ngày 11/3/1993, bà X lập giấy tay chuyển nhượng ½ diện tích đất cho cho ông Trần Văn M; Ngày 02/12/1993, bà X đã chuyển nhượng phần còn lại cho ông Nguyễn Quới H (không tranh chấp trong vụ án này). Đối với phần đất đã nhận chuyển nhượng từ bà X, ông Trần Văn M đã xây dựng nhà ở, sau đó đăng ký, kê khai và được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp quyền đất sử dụng thửa 45, tờ bản đồ số 4, diện tích 273,4m², tọa lạc tại số C, đường số C, ấp B, phường B, Quận B (nay là thành phố T) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1651/2003 ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T; ngày 05/8/2008, ông M, bà T lập hợp đồng tặng cho ông Võ Khánh V (thực tế là chuyển nhượng); ông Võ Khánh V được cập nhật sang tên ngày 18/8/2008.

    Ủy ban nhân dân Quận B2 đã trả lời câu hỏi của Tòa án “Vì sao ông M, bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà X diện tích 75m² nhưng lại kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp quyền sử dụng diện tích 273,4m² đất” như sau: Phần đất có diện tích 273,4m² thuộc một phần thửa 386, có diện tích 6.890 m², loại đất màu, tờ bản đồ số 01, xã A, huyện T (Tài liệu Bản đồ 299/TTg) do Tập đoàn A1, xã A đăng ký. Đến năm 1999 thì ông M, bà T đăng ký. Phần đất đã cấp quyền sử dụng đất cho ông M, bà T không thuộc phần đất ông C, bà A quản lý và ông C, bà A cũng không kê khai, đăng ký đối với phần đất tranh chấp. Đồng thời, Ủy ban nhân dân Quận B2 khẳng định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 1651/2003 ngày 06/10/2003 cho ông Trần Văn M, bà Lý Thị Ngọc T là đúng quy định pháp luật.

    Về phía bị đơn là ông C lại cho rằng: đất tranh chấp thuộc một phần đất của gia đình ông dùng làm đất thổ mộ, do cụ cố của ông là cụ Nguyễn Thị M1 tạo lập từ năm 1973, sau đó chia cho bà Nguyễn Thị M3 (là con cụ M1); năm 1974, cụ M3 mất, ông C là con cụ M3 tiếp tục quản lý, sử dụng đến nay.

    Đây là vấn đề cần phải thu thập, làm rõ.

  2. Bên cạnh đó, căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập thể hiện:

    1. Phần đất đã cấp quyền sử dụng cho ông V, hiện nay đang tồn tại 03 ngôi mộ, với diện tích đất 11,1m². Ông V yêu cầu phải di dời mộ để trả lại đất.

      Theo ông V trình bày, khi nhận chuyển nhượng nhà đất từ ông M, bà T, ông V đã đi khảo sát nhà đất thực tế, không có bất kỳ ngôi mộ nào. Ông M, bà T đã bàn giao nhà đất theo đúng thỏa thuận cũng không có ngôi mộ. Sau khi nhận bàn giao, ông V đi du học, để nhà đất trống, năm 2013 ông du học về mới phát hiện 03 ngôi mộ nằm chắn ngang vào lối đi nhà của ông.

      Trong khi đó, ông C lại trình bày, 03 ngôi mộ nêu trên là của gia đình ông, gồm của Trần Thị S (dì ruột ông C), chết năm 1984; ông Nguyễn Văn N (cha ruột ông C), chết năm 1981; bà Trần Thị B1 (dì ruột ông C), chết năm 1979. Khu thổ mộ của gia đình ông C đang quản lý có 13 ngôi mộ. Năm 2010, ông C xây dựng lại 13 ngôi mộ như hiện nay và xây tường rào bao quanh.

      Theo các tài liệu đo đạc, bản vẽ hiện trạng, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M, bà T đều không thể hiện có mồ mả. Ông V khẳng định khi mua nhà đất của ông M, bà T không có 03 ngôi mộ trước nhà như hiện nay. Trong khi ông C thì khẳng định 03 ngôi mộ được chôn cất từ thời điểm chết.

      Như vậy, 03 ngôi mộ nêu trên đã được hình thành từ thời điểm nào thì chưa có cơ sở để kết luận, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ vấn đề này. Do đó, ở trường hợp này cần phải giám định niên đại những ngôi mộ mới có cơ sở để xác định đúng thời điểm hình thành những ngôi mộ nêu trên mới đủ cơ sở để giải quyết vụ án.

      Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác minh để làm rõ, cả ba ngôi mộ nêu trên có đúng là của Trần Thị S (dì ruột ông C), chết năm 1984; của ông Nguyễn Văn N (cha ruột ông C), chết năm 1981; của bà Trần Thị B1 (dì ruột ông C), chết năm 1979 và được chôn cất tại thời điểm chết như ông C đã trình bày không?

      Do lời khai của các bên đương sự có nhiều mâu thuẫn, một bên khẳng định không có mộ, một bên khẳng định đã tồn tại ở đó từ năm 1979. Tài liệu, chứng cứ Tòa án sơ thẩm đã thu thập trong hồ sơ vụ án chưa đủ cơ sở để khẳng định lời khai của đương sự nào là có cơ sở.

      Giả sử nếu cả ba ngôi mộ nêu trên đã tồn tại từ trước như lời khai của ông C thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M, bà T vào năm 2003 có chồng lấn lên phần đất thổ mộ của gia đình ông C hay không. Trong khi đó, Ủy ban nhân dân Quận B2 xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là dựa trên cơ sở nội dung khai trình của người dân. Vì vậy, cần phải thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ có chồng lấn hay không?

      Trong trường hợp đúng thực tế các ngôi mộ đã tồn tại như ông C trình bày, thì có cơ sở để xác định việc cấp đất cho ông M, bà T là có một phần đất đã chồng lấn lên phần đất thổ mộ của ông C, vì lý do các ngôi mộ đã tồn tại trước.

    2. Ngoài ra, việc tồn tại 03 ngôi mộ nêu trên có ảnh hưởng đến việc sử dụng lối đi để đi vào nhà ông V hay không? Việc 03 ngôi mộ nêu trên nếu tồn tại thì ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện quyền sử dụng đất của ông V. Những vấn đề này cũng cần được làm rõ.

      Việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có mộ, buộc phải di dời mộ là vấn đề tâm linh nên cần phải xem xét hết sức thận trọng, để việc giải quyết vụ án đảm bảo tính phù hợp về phong tục, tập quán, tránh xâm phạm đến mồ mả nếu không cần thiết. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn yêu cầu được giám định niên đại của các ngôi mộ trên đất tranh chấp.

  3. Từ những phân tích nêu trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải di dời mộ để trả lại đất nhưng chưa làm rõ những vấn đề đã phân tích, việc thu thập chứng cứ và chứng minh của Tòa án cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ, mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được.

    Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  4. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

  5. Do hủy án sơ thẩm để giải quyết lại và ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị A là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C và người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị A.

Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 1094/2023/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị A.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - NĐ;
  • - BĐ;
  • - NCQL&NVLQ;
  • - Lưu: HS, VP, 19bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận

  • Số bản án: 200/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger