|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 200/2024/DS-PT
Ngày: 02/5/2024
“Tranh chấp chia di sản thừa kế, đòi tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Bích Hải; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Ông Phạm Đình Khánh. |
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hữu, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 108/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế, đòi tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3984/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa:
* Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1962; HKTT: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên; Có mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Văn L1 (V), sinh năm 1955; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Quang N, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Bà Trần Thị N1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Bà Trần Thị L2, sinh năm 1969;
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1972;
Đều cùng địa chỉ: Xóm Q, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Anh Trần Văn T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1971 (vợ ông H); Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Vắng mặt.
- Văn phòng C1; Địa chỉ: K, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn ông Trần Văn L trình bày:
Bố, mẹ của ông là cụ Trần Văn V1 (chết năm 1993) và cụ Nguyễn Thị V2 (chết năm 2017). Cụ V1 và cụ V2 sinh được 07 người con là: Trần Quang N, Trần Văn L1, Trần Văn L, Trần Văn H, Trần Thị L2, Trần Thị M và Trần Thị N1. Khi còn sống cụ V1, cụ V2 đã tạo lập được khối tài sản như sau:
- Thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích 320m²; địa chỉ: Khu C, C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2, hiện nay vợ chồng ông Trần Văn H đang quản lý.
- Năm 1979 cụ V1, cụ V2 mua thêm một ô đất của cụ Trần Văn C (địa chỉ ở thôn T, C, V, Vĩnh Phúc), diện tích khoảng 150m²; địa chỉ thửa đất ở thôn T, C, V, Vĩnh Phúc (hiện nay là một phần của thửa số 27 tờ bản đồ 2A tại thôn T, xã C, huyện V do hộ ông Trần Văn L1 - anh trai ông đang sử dụng). Năm 1980, ông L lấy vợ và được cụ V1, cụ V2 cho ra ở riêng tại thửa đất 150m² mà cụ V1, cụ V2 mua của cụ C. Khi đó cụ Chu Thị T2, địa chỉ ở thôn T, xã C, V, Vĩnh Phúc (có con là ông Nguyễn Văn M1) đã cho vợ chồng ông L một đẫn (đoạn) bờ ao có diện tích khoảng là 70m²; cụ Nguyễn Văn T3 và cụ B, địa chỉ ở thôn T, xã C, V, Vĩnh Phúc cho vợ chồng ông L một bãi đất rau và liền kề có một khoảng hố sâu không canh tác được, vợ chồng ông L đã san lấp cải tạo trồng chuối và xoan. Tổng diện tích cụ T2, cụ T3 cho là 240m². Năm 1984 cụ V1, cụ V2 mua thêm ô đất liền kề của cụ Nguyễn Văn N2, có diện tích 140m²; địa chỉ thửa đất tại: Thôn T, C, V, Vĩnh Phúc (Hiện nay tất cả những diện tích đất nói trên do ông Trần Văn L1 - anh trai ông đang sử dụng và ông L1 đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m², địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc).
Năm 1980, bố mẹ ông là cụ Trần Văn V1 và cụ Nguyễn Thị V2 cho vợ chồng ông ra ở trên thửa đất (hiện nay là thửa số 27 tờ bản đồ 2A tại thôn T, xã C, huyện V do hộ ông Trần Văn L1 - anh trai ông đang sử dụng). Bố mẹ ông làm 2 gian nhà xong thì cho vợ chồng ông ở, khi đó ông mới cưới vợ được 2 tháng. Năm 1981 - 1982, vợ chồng ông L1 cũng được bố mẹ ông cho ra đất đó ở. Tháng 12 năm 1981 ông đi bộ đội, vợ ông vẫn ở trên đất này, đến ngày 30/4/1984 ông xuất ngũ về địa phương. Khoảng năm 1986 giữa ông và ông L1 có mâu thuẫn về đất đai nên ông không ở trên đất đó nữa, vợ chồng ông dỡ nhà chuyển đến chỗ đất khác để ở (là đất của xã), ông ở một thời gian thì UBND xã có gọi ông lên và phạt tiền vì ông ở trên đất tập thể, ông nộp phạt cho xã và sau đó mua đấu thầu với giá 2 triệu đồng, diện tích 200m², có giấy thu tiền mua đất. Vợ chồng ông ở trên đất đấu thầu và có làm 2 gian nhà đắp vách ở đến khoảng năm 1995, 1996 thì ông bán lại cho vợ chồng cụ T4 - S1 (là bố mẹ chồng của bà N1 - em gái ông) vì lý do kinh tế khó khăn bán để trả nợ. Sau đó vợ chồng ông đi ở nhờ, đi làm thuê và hiện nay sinh sống ở Thái Nguyên.
Trong thời gian ông đi bộ đội không có ở nhà, ông L1 đã lấn chiếm làm nhà ở lên phần đất vợ chồng ông đã xin được của hai gia đình như đã trình bày ở trên. Sau khi phát hiện ra ông có báo tin lên UBND xã nhưng xã không can thiệp và giải quyết.
Đến đầu năm 1993, cụ V1, cụ V2 có họp gia đình để phân chia đất ở; khi chia có văn bản do cụ V1 viết, có cụ V2, ông L, ông L1, ông N, bà L2 ký vào văn bản thỏa thuận phân chia đất và được Phó Chủ tịch xã là ông Nguyễn Đức H1 xác nhận. Khi đó ông H đi bộ đội ở Quảng Bình, bà N1, bà M không có mặt nên không ký văn bản. Văn bản đã thống nhất phân chia cho 04 người con trai, cụ thể: Chia cho ông L tổng diện tích 320m² thuộc tờ bản đồ số 2A, thửa số 240, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Phần diện tích đất còn lại 640m² thuộc tờ bản đồ 2A số thứa 27; địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã C, V, Vĩnh Phúc chia cho Trần Văn N3, Trần Văn L1, Trần Văn H. Hai anh là N3 và L1 đã đem tới xã xin xác nhận và đóng dấu. Ngày 24/12/1993 bố ông chết. Ngày 30/12/1993, mẹ ông tước quyền của vợ chồng ông tại ô đất của hai gia đình đã cho riêng ông và hố sâu do vợ chồng ông khai phá, tổng diện tích đất riêng của ông là 354m², cùng với toàn bộ diện tích đất mà bố mẹ ông khi sống đã mua thêm là 286m² bàn giao cho anh trai ông là Trần Văn L1. Mặt khác, sau khi bố ông mất 01 tháng 03 ngày, anh L1 (V) có nói cho ông biết: “Tao đốt bỏ văn bản chia đất rồi mày không có đất nữa”. Như vậy là ông đã mất cả phần đất mà vợ chồng ông đã xin và khai phá được và mất đi cả phần đất thừa kế của ông cha mà bố ông đã chia cho ông.
Sự việc trên ông đã chuyển đơn tới UBND xã C và UBND huyện V nhiều lần nhưng không được giải quyết. Ngày 20/8/1994, UBND xã C có xuống làm việc nhưng cũng không giải quyết theo yêu cầu và nguyên vọng của ông theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 03/12/1997, cơ quan có thẩm quyền cấp cho ông Trần Văn L1 (Viên) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 640m², thửa đất đang có tranh chấp chưa được giải quyết theo công văn ngày 20/8/1994 là trái qui định của pháp luật.
Ông L biết cụ V2 lập di chúc cho em trai ông là ông Trần Văn H ½ thửa đất đứng tên cụ V2 nhưng ông không công nhận di chúc vì nội dung của di chúc ghi thửa đất mà cụ V2 thừa kế ½ cho ông H là thửa 284, tờ bản đồ số 2A, diện tích 261m² sai thông tin về thửa đất (thực tế là thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích 320m², địa chỉ: Khu C, C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc).
Nay ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Đề nghị tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V cấp cho ông Trần Văn L1 năm 1997 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m², địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Buộc ông Trần Văn L1 trả lại cho ông L diện tích đất mà vợ chồng ông L đã xin được của hai hộ là: Hộ ông Nguyễn Văn T3 và hộ bà Chu Thị T2 cùng với diện tích đất vợ chồng ông đã khai phá cải tạo được có tổng diện tích là 354m² (thuộc một phần diện tích đất hiện nay ông L1 đang sử dụng và đứng tên, thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc).
- Đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho 07 người con là Trần Văn L, Trần Văn L1, Trần Quang N, Trần Văn H, Trần Thị L2, Trần Thị M và Trần Thị N1 diện tích đất sau: Thửa đất thuộc tờ bản đồ số 2A, số thửa 240, diện tích 320m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2 hiện ông H đang quản lý và 286m² đất mà cụ V1, cụ V2 mua lại của cụ Trần Văn C, cụ Trần Văn N4 (thuộc một phần diện tích đất hiện nay ông L1 đang sử dụng và đứng tên thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông xin được hưởng bằng hiện vật để có chỗ cư trú ở quê hương.
Tại các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn L1 (Viên) trình bày:
Ông đồng ý với quan điểm của ông L về họ tên bố mẹ, năm cụ V1, cụ V2 chết. Cụ V1 và cụ V2 có 07 người con như ông L trình bày là đúng.
Còn về quan điểm của ông đối với nội dung ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, ông có ý kiến như sau:
Đối với nguồn gốc thửa đất có diện tích 640m² tại thửa số 27 tờ bản đồ số 2A địa chỉ ở xã C, V, Vĩnh Phúc là của bố mẹ ông là cụ V1, cụ V2 cho ông và ông đã sinh sống ở đó từ năm 1981-1982 cho đến nay. Năm 1997 thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông, quá trình sử dụng đất từ đó cho đến nay không ai ý kiến gì vì các anh chị em trong gia đình khi lớn lên bố mẹ đều cho đất. Trước đây ông L đã được bố mẹ cho đất làm nhà ở riêng nhưng ông L đã bán đi và ở nơi khác. Nay ông L khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại cho vợ chồng ông L diện tích đất là 354m², tờ bản đồ số 2A, thửa số 27 mà ông L cho rằng vợ chồng ông L đã xin và khai hoang được, đồng thời đề nghị tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông đối với diện tích 640m² thì ông không đồng ý.
Đối với yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2, diện tích là 320m², thửa số 240 tờ bản đồ số 2A thì quan điểm của ông như sau: Khi mẹ ông lập di chúc thì nguyện vọng của mẹ ông và các anh chị em trong gia đình muốn cho toàn bộ phần đất diện tích 320m² cho ông H nhưng mẹ ông không có quyền đối với toàn bộ phần đất này vì bố ông có ½ phần quyền trong đó, mà bố ông khi chết không để lại di chúc. Do vậy mẹ ông mới lập di chúc để lại quyền sử dụng ½ thửa đất cho em trai ông là Trần Văn H toàn quyền sử dụng, còn ½ là di sản của bố ông để lại thì ông đồng ý chia thừa kế cho 07 anh chị em trong gia đình theo pháp luật, phần ông ông xin hưởng.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:
- Bà Nguyễn Thị S trình bày:
Bà và ông Trần Văn L kết hôn năm 1980, bà về làm dâu và ở thửa đất hiện đang tranh chấp với ông L1. Quá trình sinh sống vợ chồng bà có xin được hai gia đình là cụ Chu Thị T2 (có con là ông Nguyễn Văn M1) cho vợ chồng bà 1 bờ ao khoảng 70m²; hai cụ Nguyễn Văn T3 và cụ B có cho vợ chồng bà một bãi đất trồng rau và liền kề có một cái hố sâu, sau đó vợ chồng bà quản lý, sử dụng, khai thác, cải tạo thành bãi trồng xoan và chồng chuối; năm 1981 chồng bà đi bộ đội. Năm 1982, lợi dụng khi chồng bà vắng nhà ông Trần Văn L1 ra lấn chiếm toàn bộ diện tích đất mà vợ chồng bà đã xin được của hai gia đình và bãi đất vợ chồng bà khai phá thêm. Ông Trần Văn L1 đang sử dụng đất nói trên từ năm 1995, đến năm 1997 ông L1 được Nhà nước giao quyền sử dụng. Quan điểm của bà là khi Tòa án giải quyết, bà xin nhượng lại toàn bộ phần đất được hưởng cho chồng bà là ông Trần Văn L quản lý, sử dụng. Bà từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.
Từ năm 1990 - 1991 vợ chồng bà đến xóm Đ, xã P, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên làm thuê, sau đó khai phá đất đai và cư trú ở đó luôn. Nay bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 8.735m² đất (trong đó 800m² đất ở, 3095m² đất trồng cây lâu năm và 4840m² đất nông nghiệp).
- Bà Trần Thị M trình bày: Bố bà là cụ Trần Văn V1, chết ngày 12/11/1993 âm lịch, mẹ bà là cụ Nguyễn Thị V2, chết ngày 14/7/2017 âm lịch. Bố mẹ bà để lại di sản gồm gần 300m² đất ở thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ khi cụ V2 chết năm 2017 thì không ai ở đất này, đến tháng 9 năm 2019 vợ chồng ông Trần Văn H từ Quảng Bình về ở và đang quản lý. Trên đất có 5 gian nhà đắp vách, lợp ngói; 04 gian bếp xây lợp ngói. Khi bố mẹ còn sống thì có tuyên bố cho ông H và ông N mỗi ông một nửa, sau đó ông N từ chối nhận, tuy nhiên trên thực tế bà không rõ ông N có nhận hay không. Ngoài ra khi còn sống, bố mẹ bà còn có hai thửa đất nữa là:
- 01 thửa diện tích khoảng hơn 600m² ở thôn T, xã C, huyện V hiện gia đình ông L1 đang sử dụng. Thửa đất này khi bố mẹ bà còn sống cho ông L1.
- 01 thửa diện tích khoảng 150m² - 200m² ở thôn T, xã C, huyện V. Bố mẹ bà cho vợ chồng ông L ra đó ở. Năm 1995-1996 ông L đã chuyển nhượng cho ông T4.
Nếu bà được chia di sản thừa kế do bố mẹ bà để lại thì bà xin hưởng phần được chia.
- Bà Trần Thị N1 trình bày:
Bố bà là cụ Trần Văn V1, chết năm 1993; mẹ bà là cụ Nguyễn Thị V2, chết năm 2017. Bố mẹ bà sinh được 7 người con. Khi còn sống bố mẹ bà tạo lập được khối tài sản: 01 thửa đất mua của cụ Trần Văn C, mua của ông Nguyễn Văn N2, mua của cụ Nguyễn Văn T3 ghép lại thành một thửa và cho ông L1 sử dụng. Ngoài ra cụ V1, cụ V2 còn có 01 thửa đất mang tên cụ V2 diện tích 320m², thửa số 240, tờ bản đồ 2A, cụ V2 đã cho ông N và ông H (trên thửa đất này có nhà cấp bốn đã xuống cấp và không còn giá trị sử dụng). Còn 01 thửa bố mẹ mua của UBND xã C diện tích 150m², sau đó bố mẹ bà cho vợ chồng ông L ra đất đó ở. Năm 1995 - 1996, ông L đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T5 bà Ngô Thị S2 (bố mẹ chồng bà). Sau đó, ông Nguyễn Văn T5 và bà Ngô Thị S2 cho vợ chồng bà; hiện thửa đất đứng tên hộ Nguyễn Văn T6 (ông T6 là chồng bà); ông L bán đất để đi làm kinh tế.
Khi bố bà chết có để lại di chúc bằng văn bản nhưng chỉ có các anh trai còn bà thì không có phần. Khi mẹ bà chết có để lại di chúc cho ông H ½ thửa đất mang tên cụ Nguyễn Thị V2.
Theo bà, tài sản của bố mẹ bà tạo lập được khi còn sống đã chia đều cho các anh trai, hiện nay không còn di sản thừa kế nào.
Nếu bà được chia di sản thừa kế do bố mẹ bà để lại thì phần bà được hưởng bà tự nguyện cho anh trai trưởng là ông Trần Quang N để làm nơi thờ cúng bố mẹ.
- Bà Trần Thị L2 trình bày: Bố bà là cụ Trần Văn V1, chết ngày 12/11/1993 âm lịch, mẹ bà là cụ Nguyễn Thị V2, chết ngày 14/7/2017 âm lịch. Bố, mẹ bà sinh được 7 người con như ông L trình bày là đúng. Bố mẹ bà để lại di sản 300m² đất ở thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện ông H và vợ con ông H đang sử dụng, thửa đất này mẹ bà đã cho ông H; trên đất có có 5 gian nhà đắp vách, lợp ngói; 04 gian bếp xây lợp ngói, ngoài ra không có tài sản sinh hoạt gì có giá trị.
Ngoài ra khi còn sống bố mẹ bà còn có hai thửa đất nữa là:
- 01 thửa diện tích khoảng hơn 600m² ở thôn T, xã C, huyện V hiện gia đình ông L1 đang sử dụng. Thửa đất này khi bố mẹ bà còn sống đã cho ông L1.
- 01 thửa diện tích khoảng 150m² - 200m² ở thôn T, xã C, huyện V. Bố mẹ bà làm 4 gian nhà đắp vách để cho vợ chồng ông L ra đó sinh sống. Năm 1995 - 1996 ông L đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T5.
Bà xác định hiện nay bố mẹ bà không còn di sản thừa kế gì để lại. Vì ba thửa đất nói trên bố mẹ bà đã cho ông H, ông L1, ông L. Bố mẹ bà khi chết có để lại di chúc hay không thì bà không biết.
Nếu bà được chia di sản thừa kế do bố mẹ bà để lại thì bà từ chối nhận, phần của bà được hưởng đề nghị Tòa án chia theo qui định của pháp luật cho những người thuộc diện được hưởng thừa kế khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Quang N được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, ông có ghi quan điểm của ông vào phần cuối Giấy triệu tập của Tòa án với nội dung: “Tôi Trần Quang N là con cả của gia đình. Không chấp nhận bất cứ giấy tờ gì hết. Còn đất của 7 đời nay bố mẹ tôi chỉ có nhà cấp 4 đang ở hiện tại. Quan điểm của tôi là không em nào được bán đất chia đất. Để các con cháu phát triển về sau này. Còn em L đã có đất và nhà bố mẹ tôi cho nhưng đã bán cho ông T5 có UBND xã Chấn Hưng chứng nhận”.
- Ông Trần Văn H trình bày:
Bố ông tên là Trần Văn V1 và mẹ ông tên là Nguyễn Thị V2 có sinh được 07 người con, gồm: Ông Trần Quang N, sinh năm 1953; ông Trần Văn L1 (Viên), sinh năm 1955; ông Trần Văn L, sinh năm 1962; ông Trần Văn H, sinh năm 1967; bà Trần Thị L2, sinh năm 1969; bà Trần Thị M, sinh năm 1972; bà Trần Thị N1, sinh năm 1976. Bố ông là cụ Trần Văn V1 chết năm 1993, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị V2 chết năm 2017.
Cụ V1 và cụ V2 chết có để lại di sản gồm thửa đất có diện tích 320m² tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và một ngôi nhà bằng tre, nứa trên thửa đất đó. Trước khi chết, cụ V2 có để lại di chúc cho ông được hưởng di sản là thửa đất có diện tích 320m², số thửa 240, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nguồn gốc đất là của ông bà tổ tiên để lại. Trên đất có sẵn 01 nhà cấp bốn xây khoảng năm 1974, 01 nhà ngang (nhà bếp) xây khoảng năm 1986, 01 giếng khoan, tường bao loan, cổng, 01 cây mít, 01 cây bưởi. Sau khi về đó ở vợ chồng làm thêm sân bê tông diện tích 70m² năm 2019, làm mái tôn chỗ sân giếng, mua 1 bồn nước Inox 1000 lít năm 2020. Di sản mà bố mẹ để lại ông được quyền sử dụng và sở hữu.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L ông không đồng ý vì mẹ ông là cụ V2 đã lập di chúc chia cho ông toàn bộ 320m² và các tài sản có trên đất. Di chúc của mẹ ông chính là di chúc mà ông L1 đã nộp cho Tòa án.
- Bà Nguyễn Thị L3 (vợ ông H) trình bày: Bà và ông H từ Quảng Bình về ở đất cụ V2 từ năm 2019. Trên đất có sẵn 01 nhà cấp bốn xây khoảng năm 1974, 01 nhà ngang (nhà bếp) xây khoảng năm 1986, 01 giếng khoan, tường bao loan, cổng, 01 cây mít, 01 cây bưởi. Sau khi về đó ở bà và ông H làm thêm sân bê tông diện tích 70m² năm 2019, làm mái tôn chỗ sân giếng, mua 1 bồn nước Inox 1000 lít năm 2020. Nếu trong trường hợp chia di sản thừa kế của các cụ để lại mà cần phải tháo mái tôn và bồn nước thì bà sẽ tự nguyện tháo, còn sân bê tông không tháo dỡ được, nếu ai được chia bao nhiêu diện tích sân thì thanh toán cho vợ chồng bà trị giá tương ứng giá mà Hội đồng định giá đã xác định là 70.000đ/m².
- Bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà kết hôn với ông Trần Văn L1 khoảng năm 1987 – 1988. Sau khi kết hôn bà và ông L1 sinh sống với nhau tại thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A cho đến nay. Trong quá trình chung sống cùng ông L1, bà cùng ông L1 phải đổ đất tôn nền khoảng 1m vì trước đây thửa đất này là ruộng sâu. Đến năm 1989, vợ chồng bà xây nhà 04 gian lợp ngói, hiện nhà này vẫn còn. Trên thửa đất có 01 căn nhà 02 tầng xây năm 2018, việc xây căn nhà này bà, ông L1, anh Trần Văn T (con trai bà và ông L1), anh Trần Văn T1 (con trai bà và ông L1) cùng nhau đóng góp tiền của, công sức để xây dựng và lát sân gạch. Nay ông L khởi kiện đòi lại đất, yêu cầu chia di sản thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L1 thì quan điểm của bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.
- Anh Trần Văn T trình bày: Anh là con trai ruột của ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị Đ. Hiện nay anh đang sinh sống cùng ông L1, bà Đ tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong quá trình chung sống anh có đóng góp tiền và công sức cho ông L1, bà Đ cùng em anh là anh T1 trong việc xây ngôi nhà 02 tầng, lát sân gạch. Tuy nhiên, anh không xác định được cụ thể số tiền đóng góp và công sức là bao nhiêu vì năm 2018 khi xây thì cả nhà cùng nhau chung tiền và công sức để làm. Nay ông L có đơn khởi kiện đòi lại đất, yêu cầu chia di sản thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L1 thì quan điểm của anh là anh không có liên quan đến quyền sử dụng đất, vì quyền sử dụng đất này của bố mẹ anh. Còn đối với các tài sản có trên đất mà anh có công sức đóng góp thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho anh.
- Anh Trần Văn T1 trình bày: Anh là con trai ruột của ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị Đ. Hiện nay anh cùng vợ anh là chị Trần Thị H2 đang sinh sống cùng ông L1, bà Đ tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong quá trình chung sống anh có đóng góp tiền và công sức cho ông L1, bà Đ cùng anh trai của anh là anh T trong việc xây ngôi nhà 02 tầng, lát sân gạch. Tuy nhiên, anh không xác định được cụ thể số tiền đóng góp và công sức là bao nhiêu vì năm 2018 khi xây thì cả nhà cùng nhau chung tiền và công sức để làm. Anh kết hôn với chị H2 sau khi nhà 02 tầng và sân gạch đã làm xong nên chị H2 không có công sức đóng góp gì đối với tất cả các tài sản có trên thửa đất đó. Nay ông L có đơn khởi kiện đòi lại đất, yêu cầu chia di sản thừa kế và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L1 thì quan điểm của anh là anh không có liên quan đến quyền sử dụng đất, vì quyền sử dụng đất này của bố mẹ anh. Còn đối với các tài sản có trên đất mà anh có công sức đóng góp thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho anh.
- UBND huyện V có quan điểm trình bày:
Những tài liệu có trong hồ sơ do phòng Tài nguyên và Môi trường thu thập được gồm có:
- Bản đồ 299 can vẽ lại năm 1996, từ 02a, thửa đất 27, diện tích 640m², loại đất T7
- Sổ mục kê lập năm 1996, tờ bản đồ số 02a, thửa đất số 27, diện tích 640m², loại đất thổ cư, chủ sử dụng: Trần Văn L1.
- Sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập năm 1997, số vào sổ 0252, số phát hành 820113, chủ sử dụng ông Trần Văn L1, diện tích 640m², loại đất: Thổ cư.
- Về quy định của pháp luật:
Năm 1997, UBND xã C tiến hành hoàn thiện thủ tục hồ sơ theo quy định để đề nghị UBND huyện cấp GCNQSD đất cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã, trong đó có hộ ông Trần Văn L1 - thôn T, tại thời điểm xét cấp GCNQSD đất không ai có ý kiến thắc mắc gì.
UBND huyện V đã căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Đất đai năm 1993 và khoản 3 Mục II Thông tư 302 TT/ĐKTK để cấp GCNQSD đất cho ông Trần Văn L1 là đúng quy định tại thời điểm cấp GCNQSD đất năm 1997.
Do đó, việc ông Trần Văn L1 - xã C, huyện V yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tuyên hủy GCNQSD đất do UBND huyện V cấp cho ông Trần Văn L1 năm 1997 tại thửa đất số 27, tờ bản đồ 2a, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
- Văn phòng C1 trình bày:
Ngày 26/11/2013, cụ Nguyễn Thị V2, sinh năm 1933 đến Văn phòng C1 yêu cầu công chứng di chúc. Cụ V2 xuất trình đầy đủ giấy tờ về đất, giấy tờ cá nhân của cụ V2 và ông Trần Văn H. Công chứng viên soạn thảo di chúc với nội dung: Di chúc của cụ V2 để lại ½ diện tích đất thổ cư 261m² tại thửa đất số 284, tờ bản đồ số 2A; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cho con trai cụ là ông Trần Văn H, sinh ngày 15/9/1967. Sau khi soạn thảo xong di chúc đã đọc lại di chúc cho cụ V2 nghe, cụ đồng ý toàn bộ nội dung trong di chúc. Sau đó cụ V2 điểm chỉ ngón trỏ phải vào di chúc, Công chứng viên ra lời chứng, ký tên đóng dấu và chuyển giao cho cụ V2 hai bản di chúc. Khi cụ V2 đến văn phòng Công chứng thì tỉnh táo, minh mẫn, sáng suốt, có đủ khả năng nhận thức, tự nguyện làm di chúc cho con trai. Văn phòng C1 thấy việc cụ Nguyễn Thị V2 làm di chúc để lại ½ diện tích đất thổ cư cho con trai là Trần Văn H đúng qui định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng qui định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 646, 650, 652, 653, 657, 667 Bộ luật Dân sự 2005; 611, 612, 613, 614, khoản 1 Điều 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 100, 167 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc:
- Đề nghị tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V cấp cho ông Trần Văn L1 ngày 03/12/1997 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A, diện tích 640m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Buộc ông Trần Văn L1 trả lại cho ông L diện tích đất mà vợ chồng ông L đã xin được của hai hộ là: Hộ ông Nguyễn Văn T3 và hộ bà Chu Thị T2 cùng với diện tích đất vợ chồng ông đã khai phá cải tạo được có tổng diện tích là 354m² thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về chia thừa kế của cụ Trần Văn V1 và cụ Nguyễn Thị V2:
- Chia cho ông Trần Văn H sở hữu, sử dụng: 179,1m² đất thổ cư tại thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc trị giá 179.100.000đ được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 5A, 9A, 10, 11, 1 (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án) và những di sản trên đất đó gồm 36,8m² nhà, 32m² bếp (nhà ngang), 01 giếng khoan, 01 cây bưởi, tường bao loan dài 6,12m (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án). Tổng trị giá là 217.392.000₫ (Hai trăm mười bảy triệu ba trăm chín mươi hai nghìn đồng).
- Vợ chồng ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị L3 được sở hữu, sử dụng các tài sản tạo dựng được trên đất gồm: 01 bồn nước Inox 1000 lít, 56,2m² sân bê tông, 18m² mái lợp tôn.
- Ông Trần Văn H có nghĩa vụ thanh toán tiền trị giá di sản thừa kế cho ông Trần Văn L1 29.318.300đ (Hai mươi chín triệu ba trăm mười tám nghìn ba trăm đồng).
- Chia cho ông Trần Văn L được sở hữu, sử dụng 128m² đất thổ cư tại thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc trị giá 128.000.000₫ được giới hạn bởi các điểm 5A, 6, 7, 8, 9, 9A, 5A và những di sản trên đất đó gồm: 25,2m² nhà, 01 cây mít, 22m tường bao loan (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án). Tổng trị giá là 143.550.000đ (Một trăm bốn mươi ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
- Ông Trần Văn L được sở hữu, sử dụng 16,8m² sân bê tông do vợ chồng ông H, bà L3 làm trên diện tích đất ông được chia. Ông Trần Văn L có nghĩa vụ thanh toán trị giá tiền sân bê tông cho vợ chồng ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị L3 1.170.400đ (Một triệu một trăm bảy mươi nghìn bốn trăm đồng).
- Ông Trần Văn L có nghĩa vụ thanh toán tiền trị giá di sản thừa kế cho ông Trần Quang N 69.147.400₫ (Sáu mươi chín triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm đồng), thanh toán tiền trị giá di sản thừa kế cho bà Trần Thị M 34.573.700đ (Ba mươi tư triệu năm trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm đồng) và thanh toán tiền trị giá di sản thừa kế ông Trần Văn L1 5.255.200đ (Năm triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
- Xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn V1 và cụ Nguyễn Thị V2 để lại là thửa đất thổ cư có diện tích thực tế là 307,1m², số thửa 240, tờ bản đồ số 2A, (diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 320m²); địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đã được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 0391.QSD ngày 03/12/1997 và các tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp bốn 5 gian xây từ năm 1974, 01 căn nhà ngang xây năm 1986, tường bao loan, trụ cổng 28,12m, 01 giếng khoan, 01 cây mít, 01 cây bưởi. Tổng trị giá là 360.942.000đ.
- Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị V2 theo di chúc và theo pháp luật. Chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn V1 theo pháp luật, cụ thể như sau:
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 27/9/2023 và ngày 31/10/2023, nguyên đơn là ông Trần Văn L có đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn L từ chối không ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Kim Q tham gia tố tụng tại phiên tòa, đồng thời giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông; bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; Văn phòng C1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành của đương sự đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, kháng cáo của nguyên đơn hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Sau khi phân tích tài liệu có trong hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa thì thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về việc: Đề nghị tuyên hủy GCNQSDĐ do UBND huyện V cấp cho ông Trần Văn L1 ngày 03/12/1997 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A, diện tích 640m², địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và buộc ông Trần Văn L1 trả lại cho ông L diện tích đất mà vợ chồng ông L đã xin được của hai hộ là: Hộ ông Nguyễn Văn T3 và hộ bà Chu Thị T2 cùng với diện tích đất vợ chồng ông đã khai phá cải tạo được có tổng diện tích là 354m² thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L về chia thừa kế của cụ Trần Văn V1 và cụ Nguyễn Thị V2 theo pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên, trong vụ án này có ông Trần Văn H là người quản lý di sản từ trước đến nay nhưng không được chia cho phần công sức là chưa phù hợp, xét thấy ông H không có kháng cáo, ông cũng không có ý kiến gì và vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên không xem xét. Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ V2 là không đúng nên để giải quyết triệt để vụ án thì cần sửa bản án sơ thẩm hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ V2. Về nội dung mà nguyên đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu gì mới chứng minh cho quan điểm của mình nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn L; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng phân tích như trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn là ông Trần Văn L nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V cấp cho ông Trần Văn L1 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; kiện đòi tài sản vợ chồng ông đã khai phá cải tạo được có tổng diện tích là 354m² (thuộc một phần diện tích đất hiện nay ông L1 đang sử dụng và đứng tên, thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ 2A; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc); Đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật cho 07 người con của cụ V1 và cụ V2 đối với thửa đất thuộc tờ bản đồ số 2A, thửa số 240, diện tích 320m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý và xác định quan hệ pháp luật là “Chia di sản thừa kế, kiện đòi tài sản và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng quy định tại Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2]. Về thời hiệu khởi kiện: Cụ V1 chết ngày 24/12/1993, cụ V2 chết ngày 04/9/2017. Như vậy, tính đến ngày khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản của cụ V1 và cụ V2 vẫn còn (dưới 30 năm).
[1.3]. Về thời hạn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn L1 có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật, đảm bảo đúng quy định tại Điều 272, khoản 1 Điều 373, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.4]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1]. Về xác định hàng thừa kế: Các đương sự trong vụ án đều thống nhất vợ chồng cụ Trần Văn V1 và cụ Nguyễn Thị V2 sinh được 07 người con chung là: Trần Quang N sinh năm 1953, Trần Văn L1 (V) sinh năm 1955, Trần Văn L sinh năm 1962, Trần Văn H sinh năm 1967, Trần Thị L2 sinh năm 1969, Trần Thị M sinh năm 1972, Trần Thị N1 sinh năm 1976. Cụ V1 và cụ V2 không có con riêng, không có con nuôi và không nhận ai làm bố, mẹ nuôi.
Cụ Trần Văn V1 chết năm 1993, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Văn V1 gồm: Cụ Nguyễn Thị V2, ông Trần Quang N, ông Trần Văn L1 (Viên), ông Trần Văn L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị M, bà Trần Thị N1.
Cụ Nguyễn Thị V2 chết năm 2017, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Thị V2 gồm: ông Trần Quang N, ông Trần Văn L1 (Viên), ông Trần Văn L, ông Trần Văn H, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị M, bà Trần Thị N1.
[2.2]. Về nguồn gốc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 640m² đứng tên ông Trần Văn L1; địa chỉ thửa đất: Khu C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 03/12/1997, căn cứ hồ sơ địa chính lưu trữ tại xã C thể hiện như sau:
- Tại sổ theo dõi giải thửa theo gốc đạc 1978 thổ cư Yên Nội có thể hiện: Tại mảnh 31 có tên Trần Văn L1 1981 diện tích 360m² (những số liệu này trong sổ năm 1978 được bổ sung sau nhưng không rõ thông tin ai là người bổ sung và bổ sung vào thời gian nào).
- Theo bản đồ can vẽ năm 1987 thửa số 11, tờ bản đồ số 7, diện tích là 2.270m² được chia cho 05 hộ nhưng không thể hiện tên từng hộ, trong đó 01 hộ diện tích là 432m², 04 hộ còn lại mỗi hộ diện tích là 360m² đối chiếu với thực địa và bản đồ đo vẽ năm 1996 thì có vị trí của thửa đất nhà ông L1.
- Theo bản đồ 299 đo vẽ lại năm 1996: Tờ bản đồ số 2A, thửa đất số 27, diện tích 640m², loại đất: T và có chữ “Liễu” bên cạnh.
- Theo số mục kê xã C, huyện V (không ghi ngày, tháng, năm) tại trang 28, tờ bản đồ 02A, số thửa 27, chủ sử dụng Trần Văn L1 khu 3, diện tích 640m², loại đất thổ cư.
- Số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập năm 1997 thể hiện: 02A, 27, Trần Văn L1, khu C, diện tích 640m². Có sự chênh lệch diện tích đất đứng tên ông L1 tại sổ theo dõi giải thửa theo gốc đạc 1978 (diện tích 360m²) với diện tích theo bản đồ 299 đo vẽ lại năm 1996, số mục kê xã C, số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập năm 1997 (diện tích 640m²) thì sổ sách địa chính không thể hiện lý do diện tích tăng. Trước khi hộ ông L1 ra ở tại thửa đất có số thửa 27, tờ bản đồ 02A thì cụ V2, cụ V1 có ở trên thửa đất đó không và nguồn gốc thửa đất có phải của cụ V2, cụ V1 hay không thì UBND xã không nắm được.
[2.3]. Về nguồn gốc thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích 320m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đứng tên bà Nguyễn Thị V2 hiện do ông H (con cụ V1 và cụ V2) đang quản lý:
Quá trình giải quyết vụ án, ông L1 có nộp cho Tòa án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Nguyễn Thị V2, số thửa 284, tờ bản đồ số 2A, diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 261m²; địa chỉ thửa đất: Khu C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; các đương sự đều trình bày diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của cụ V1 và cụ V2 để lại. Tuy nhiên, khi Tòa án xem xét đối chiếu với bản đồ địa chính và sổ sách quản lý đất đai tại xã và thực địa thì thấy rằng thửa đất mà cụ V1 và cụ V2 để lại chính xác là thửa đất có số thửa 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích là 320m² địa chỉ thửa đất: Khu C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc hiện do ông H (con cụ V1 và cụ V2) đang quản lý.
- Theo bản đồ 299 đo vẽ lại năm 1996 thể hiện có 02 thửa đất đứng tên Nguyễn Thị V2:
- Theo sổ mục kê xã C, huyện V (không ghi ngày, tháng, năm) thể hiện có 02 thửa đất đứng tên Nguyễn Thị V2:
- Sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập năm 1997 thể hiện có 02 Nguyễn Thị V2 đều có địa chỉ khu C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tương ứng như sau:
Thửa 1: Tại tờ bản đồ 2A, thửa đất số 284, diện tích 261m², loại đất T và có chữ “Vụn” bên dưới. Thửa 2: Tại tờ bản đồ 2A, thửa đất số 240, diện tích 320m², loại đất T và có chữ “Vụn” bên dưới.
Thửa 1: Tờ bản đồ 02A, số thửa 284, chủ sử dụng Nguyễn Thị V2 khu 3, diện tích 261m², loại đất thổ cư.
Thửa 2: Tại trang 36, tờ bản đồ 02A, số thửa 240, chủ sử dụng Nguyễn Thị V2 khu 3, diện tích 320m², loại đất thổ cư.
Đối với thửa số 284, diện tích 261m² tại số vào sổ 0414, số phát hành tổng cục H3, tên chủ sử dụng đất: Nguyễn Thị V2.
Đối với thửa số 240, diện tích 320m² tại số vào sổ 0391, số phát hành của tổng cục H4, tên chủ sử dụng đất: Nguyễn Thị V2.
Ủy ban nhân dân xã C cung cấp: Thời điểm làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997 ở khu C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có 02 người đều tên Nguyễn Thị V2. Cụ Nguyễn Thị V2 (có chồng là cụ Trần Văn V1) là bố, mẹ của các ông, bà L1, L, N, H, L2, M, N1 là cụ V2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 240, diện tích 320m² tại số vào sổ 0391, số phát hành của tổng cục H4 mà thửa đất này hiện nay anh H đang quản lý, sử dụng.
Còn thửa đất số 284, tờ bản đồ số 2A, diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 261m² đứng tên bà Nguyễn Thị V2; địa chỉ thửa đất: Khu C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là của bà V2 khác (bà V2 này không có chồng, con và hiện đang ở với em trai là ông Nguyễn Văn T8 tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc).
Việc ông L1 xuất trình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa 284, tờ bản đồ số 24 có thể là do thời điểm làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cán bộ giao nhầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 gia đình cụ V2 và bà V2, còn thực tế 02 gia đình vẫn đang sử dụng, quản lý đúng thửa đất của gia đình mình.
Ủy ban nhân dân xã C khẳng định ông H (con cụ V1, cụ V2) đang sử dụng thửa đất số thửa 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích là 320m²; địa chỉ thửa đất: thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có nguồn gốc do cụ V1, cụ V2 để lại.
Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập bà Nguyễn Thị V2 (chị ông T8) để hỏi về việc nhầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà V2 không đến làm việc. Tòa án đã làm việc với ông Nguyễn Văn T8 là em bà V2 thì ông T8 cho biết: Ông là em trai ruột bà Nguyễn Thị V2, hiện bà V2 đang sinh sống cùng ông. Sau khi được Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và chính quyền địa phương thông báo việc bị nhầm lẫn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ V2 và bà V2 thì ngày 14/3/2023 ông đã trực tiếp gặp ông Trần Văn H là con của cụ V2 để đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhau. Ông đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2 đối với thửa 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích là 320m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cho ông H và ông H cũng đã giao lại cho ông đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2 đối với thửa 284, tờ bản đồ số 2A, diện tích là 261m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
[2.4]. Kết quả định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp như sau:
- Thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 320m², diện tích đo đạc thực tế là 307,1m², trị giá: 307,1m² x 1.000.000đ/m² = 307.100.000đ. Trên đất có các tài sản gắn liền với đất:
- 01 căn nhà cấp bốn 5 gian xây từ năm 1974, trị giá: 62m² x 500.000đ/m² = 31.000.000đ;
- 01 căn nhà ngang xây năm 1986, trị giá: 32m² x 500.000đ/m² = 16.000.000đ;
- Tường bao loan, trụ cổng 28,12m dài, trị giá: 28,12m x100.000đ/m = 2.812.000₫;
- 01 giếng khoan trị giá: 2.880.000đ;
- 01 cây mít trị giá: 750.000đ;
- 01 cây bưởi trị giá: 400.000đ;
- 01 téc nước Inox 10001, trị giá: 2.500.000đ;
- Sân bê tông làm năm 2019, trị giá: 73m² x 70.000đ/m² = 5.110.000đ;
- Mái lợp tôn năm 2020, trị giá: 18m² x 290.000đ/m² = 5.220.000đ.
- Thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 640m², diện tích đo đạc thực tế là 633,7m² đứng tên ông Trần Văn L1 có trị giá 633,7m² x 1.000.000đ/m² = 633.700.000đ. Trên đất có các tài sản gắn liền với đất:
- 01 nhà hai tầng xây thô diện tích 242m², trị giá: 242m² x 4.000.000đ/m² = 968.000.000₫;
- 01 nhà cấp bốn xây năm 1989 diện tích 69m², trị giá: 10.000.000đ;
- 01 nhà 2 tầng năm xây 2018 diện tích 240,5m², trị giá: 240,5m² x 5.400.000đ/m² = 1.298.700.000₫;
- Lán để xe mái tôn diện tích 17m², trị giá: 17m² x 500.000đ/m² = 8.500.0000đ;
- 02 cánh cổng Inox, trị giá: 7.000.000đ;
- Tường rào, trụ cổng (dài 9,57m, cao 2,1m, rộng 0,11m) 2,21m³ trị giá: 2,21m³ x 1.300.000đ/m³ = 2.873.000đ;
- Sân lát gạch nem đỏ trước cửa nhà hai tầng năm 2018 diện tích 82m², trị giá: 82m² x 120.000đ/m² = 9.840.000đ.
UBND xã C cho biết: Theo số liệu định giá, đo đạc hiện trạng khi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/9/2021 và ngày 12/7/2022 thì thửa đất hiện nay ông H đang quản lý sử dụng có diện tích thực tế là 307,1m²; Thửa đất hiện nay ông L1 đang quản lý sử dụng có diện tích thực tế là 633,7m². Diện tích đo đạc thực tế của 02 thửa đất nói trên có chênh lệch so với diện tích trong bản đồ 299, sổ cấp Giấy chứng nhận là do sai số đo đạc. Từ trước đến nay giữa thửa đất hộ ông L1 đang quản lý và thửa đất hộ ông H đang quản lý đều không có tranh chấp ranh giới với các hộ liền kề.
[2.5]. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện V cấp cho ông Trần Văn L1 năm 1997 đối với thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m²; địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Buộc ông Trần Văn L1 trả lại cho ông L diện tích đất mà vợ chồng ông L đã xin được của hai hộ là: Hộ ông Nguyễn Văn T3 và hộ bà Chu Thị T2 cùng với diện tích đất vợ chồng ông đã khai phá cải tạo được có tổng diện tích là 354m² thuộc tờ bản đồ số 2A, tờ số 27 địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Từ khi cụ V1, cụ V2 còn sống thì hai cụ cho vợ chồng ông L và vợ chồng ông L1 ra ở thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m². Nguồn gốc thửa đất do các cụ mua và được cụ T3 cho một phần. Năm 1986, ông L và ông L1 có mâu thuẫn về đất đai nên vợ chồng ông L không ở trên đất đó nữa, dỡ nhà chuyển đi chỗ khác ở (vợ chồng ông L chuyển đến chỗ đất khác là đất tập thể và năm 1993-1994 mua đấu thầu với giá 2 triệu đồng, diện tích 200m² có giấy thu tiền đất. Vợ chồng ông L ở trên đất đó và có làm 02 gian nhà đắp vách ở đến khoảng năm 1995 - 1996 thì vợ chồng ông L chuyển nhượng lại cho vợ chồng cụ T5 - S2 (là bố mẹ chồng của bà N1 - em gái ông L) để đi Thái Nguyên sinh sống. Như vậy, ông L1 ở trên thửa đất từ năm 1982 cho đến nay. Năm 1997, thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông L1, quá trình sử dụng đất từ năm 1982 cho đến nay các anh, em trong gia đình không ai ý kiến gì. Bản thân cụ V2 năm 1997 đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ cũng chỉ kê khai thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A đứng tên cụ. Như vậy, khi hai cụ còn sống đã cho ông L1 thửa đất ông L1 đang ở và từ năm 1986 (từ khi ông L đi ở đất khác) đến khi khởi kiện là trên 30 năm chưa bao giờ ông L có tranh chấp gì với ông L1 và ông L cũng không kê khai quyền sử dụng đất, không nộp thuế đất, việc ông L cho rằng ông mua đất của người khác nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Ông L cho rằng cụ Nguyễn Văn T3 cho ông một phần đất; Tuy nhiên, khi cụ T3 còn sống, Tòa án lấy lời khai của cụ T3 thì cụ trình bày: Cụ và vợ chồng cụ V1 là hàng xóm của nhau. Năm 1980 cụ V1, cụ V2 có nói chuyện với vợ chồng cụ để xin đất để ở. Lúc đó diện tích đất nhà cụ nhiều nên có cho vợ chồng cụ V1 khoảng 4 thước đất, trên đất có trồng rau muống và 4 bụi tre nhỏ, khi cho chỉ nói miệng không có giấy tờ gì. Sau đó thấy gia đình cụ V1 san đất làm nhà. Vợ chồng ông L, S ở đó một thời gian. Sau đó lại thấy ông L1 đến ở và hiện nay ông L1 đang ở trên đất đó. Cụ khẳng định cụ cho vợ chồng cụ V1, cụ V2 4 thước đất tại thôn T, xã C, huyện V chứ không cho con cụ V1, cụ V2 bao giờ. Sau khi cho cụ V1, cụ V2 thì hai cụ sử dụng hay cho ai cụ không rõ (nay cụ T3 đã chết). Ngoài ra vợ chồng ông L còn trình bày: Khoảng năm 1980 - 1981 ông L được cụ Chu Thị T2 (mẹ đẻ ông Nguyễn Văn M1) đã cho vợ chồng ông L một đẫn (đoạn) bờ ao có diện tích khoảng là 70m². Ông L có nộp cho Tòa án 01 văn bản có nội dung: “Tôi là Nguyễn Văn M1 trước bà tôi còn sống có nói là cho vợ chồng nhà Sáng Liểu 1 bờ tre giáp với nhà ông N5” và ông L trình bày đây là xác nhận của ông Nguyễn Văn M1 - con cụ T2. Do cụ T2 đã chết nên Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành lấy lời khai của cụ T2 được và đã triệu tập ông M1 để làm rõ nội dung ông xác nhận như trên nhưng ông M1 không đến Tòa án để làm việc, Tòa án cũng đề nghị ông L đưa ông M1 đến Tòa án làm việc nhưng ông L cũng không thực hiện được. Như vậy, không thể làm rõ cụ T2 có cho ông L đất như vợ chồng ông L trình bày hay không. Đồng thời, ông M1 (con cụ T2) cũng xác nhận là chỉ nghe nói cụ T2 cho vợ chồng ông L 01 cái bờ tre (có thể chỉ là cho tre) thì cũng không có cơ sở xác định là cho một đẫn (đoạn) bờ ao có diện tích khoảng 70m² như ông L trình bày. Đối chiếu với sổ theo dõi giải thửa, sổ mục kê, bản đồ lưu trữ tại UBND xã C thì không có thông tin gì về việc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m² ông L1 đang sử dụng có nguồn gốc của cụ T3, cụ T2 hay là ông L mà chỉ có tên ông Trần Văn L1. Như vậy, về cơ sở pháp lý cũng không có căn cứ để khẳng định một phần diện tích 640m² nói trên có nguồn gốc của cụ T3, cụ T2 hay là ông L.
Năm 1989 vợ chồng ông L1 dỡ nhà cũ, tôn nền, xây 01 nhà cấp bốn để ở. Khi đó cụ V1 và cụ V2 còn sống nhưng các cụ và các anh em không ai phản đối. Như vậy, chứng tỏ việc ông L1, bà L2, bà M, bà N1... trình bày khi còn sống cụ V1 và cụ V2 cho ông L1 thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A là đúng.
Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy việc UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1 là có cơ sở, đúng quy định pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông L là có căn cứ.
[2.6]. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho 07 người con là Trần Văn L, Trần Văn L1, Trần Quang N, Trần Văn H, Trần Thị L2, Trần Thị M và Trần Thị N1 đối với diện tích đất khoảng 286m² mà cụ V1, cụ V2 mua lại của cụ Trần Văn C, cụ Nguyễn Văn N2 (hiện nay ông L1 đang sử dụng và đứng tên) thuộc tờ bản đồ 2A, thửa số 27, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Như đã phân tích tại Mục [2.5] nêu trên thì thửa đất số 27, tờ bản đồ số 2A, diện tích 640m² thuộc quyền sử dụng của hộ ông L1 nên không có cơ sở chấp nhận diện tích 286m² đất trong diện tích 640m² đất trên là di sản của cụ V1, cụ V2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật cho 07 người con của vụ Viền, cụ V2 đối với diện tích 286m² đất của ông L là đúng quy định pháp luật.
[2.7]. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật cho 07 người con là Trần Văn L, Trần Văn L1, Trần Quang N, Trần Văn H, Trần Thị L2, Trần Thị M và Trần Thị N1 đối với thửa đất thuộc tờ bản đồ số 2A, số thửa 240, diện tích 320m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị V2; Xét thấy:
Di sản của cụ V1 và cụ V2 để lại gồm thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 320m², diện tích đo đạc thực tế là 307,1m². Theo xác minh tại UBND xã C cho biết: Theo số liệu định giá, đo đạc hiện trạng khi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 10/9/2021 thì thửa đất hiện nay ông H đang quản lý sử dụng có diện tích thực tế là 307,1m². Diện tích đo đạc thực tế của thửa đất có chênh lệch so với diện tích trong bản đồ 299, sổ cấp Giấy chứng nhận là do sai số đo đạc. Từ trước đến nay thửa đất hộ ông H đang quản lý không có tranh chấp ranh giới với các hộ liền kề, do đó cần xác định diện tích đất di sản các cụ để lại là 307,1m², trị giá 307.100.000 đồng; 01 căn nhà cấp bốn 5 gian xây từ năm 1974, trị giá 31.000.000 đồng; 01 căn nhà ngang xây năm 1986, trị giá 16.000.000 đồng; 28,12m tường bao loan, trụ cổng dài, trị giá 2.812.000 đồng; 01 giếng khoan trị giá 2.880.000 đồng; 01 cây mít trị giá 750.000 đồng; 01 cây bưởi trị giá 400.000 đồng. Như vậy, di sản thừa kế cụ V1, cụ V2 để lại nói trên có tổng trị giá là 360.942.000 đồng (gồm trị giá đất 307.100.000 đồng và tài sản trên đất 53.842.000 đồng).
Ngoài ra, trên thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A còn có các tài sản khác của vợ chồng ông H, bà L3 tạo dựng, lắp đặt sau khi các cụ chết (không phải di sản thừa kế) gồm: 01 téc nước Inox 1000 lít trị giá: 2.500.000 đồng; 73m² sân bê tông làm năm 2019 trị giá 5.110.000 đồng; 18m² mái lợp tôn năm 2020 trị giá 5.220.000 đồng.
Ngày 26/11/2013, cụ Nguyễn Thị V2 lập di chúc có công chứng tại Văn phòng C1 cho ông H ½ diện tích thửa đất 284, tờ bản đồ 2A, diện tích 261m² (thực tế là thửa số 2A, số thửa 240, diện tích 320m² vì chính quyền giao nhầm Giấy chứng nhận giữa cụ V2 và bà V2, khi cụ V2 còn sống và cả khi cụ đã chết thì không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này, đến khi Tòa án giải quyết vụ án mới phát hiện ra nhầm. Tại phiên tòa, ông L cho rằng di chúc có nội dung không hợp pháp vì ghi không đúng thông tin số thửa, tờ bản đồ và diện tích thửa đất đứng tên cụ V2 nên đề nghị Tòa án không chấp nhận tính hợp pháp của di chúc. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên khi cụ V2 đi làm di chúc là làm theo thông tin của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp nhầm. Như vậy, cần hiểu rằng cụ V2 di chúc cho ông H ½ diện tích thửa đất trong khối tài sản chung với cụ V1 là phản ánh đúng ý chí của cụ V2, do đó, cần tôn trọng ý chí của cụ V2 nêu trong di chúc và xác định cụ V2 cho ông H ½ thửa số 2A, số thửa 240, diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng ghi đất là 320m² (diện tích đo thực tế là 307,1m²).
Nay chia theo di chúc thì ông H được ½ diện tích thửa đất số 240, tờ bản đồ số 2A, diện tích đo thực tế là 307,1m² tức là được hưởng 307,1m²/2 = 153,55m²; còn lại ½ diện tích đất là di sản thừa kế của cụ V1 sẽ được chia theo pháp luật cho 08 người gồm cụ Nguyễn Thị V2, ông Trần Văn L, ông Trần Văn L1, ông Trần Quang N, ông Trần Văn H, bà Trần Thị L2, bà Trần Thị M, bà Trần Thị N1. Tuy nhiên, cụ V2 đã chết và bà L2 từ chối nhận di sản mà cho các thừa kế còn lại, nên di sản của cụ V1 chỉ chia cho 06 người là ông L, ông L1, ông N, ông H, bà M và bà N1, mỗi người được hưởng diện tích đất là 153,55m²/6 = 25,6m². Như vậy, cộng cả di sản của cụ V1 và cụ V2 thì ông H được hưởng 153,55m² + 25,6m² = 179,1m². Mặc dù, ông N có ý kiến không đồng ý chia di sản nhưng ông không từ chối nên cần chia cho ông được hưởng di sản, đồng thời bà N1 cho ông N hưởng phần di sản bà được chia nên ông N được hưởng cả phần bà N1, cụ thể là ông N được hưởng 25,6m² x 2 = 51,2m² đất.
Các di sản khác là bất động sản trên đất do hai cụ để lại gồm: Nhà ở, nhà ngang, tường bao loan, trụ cổng, giếng khoan, 01 cây mít, 01 cây bưởi có tổng trị giá 53.842.000đ. Các tài sản này không được cụ V2 đề cập trong di chúc nên nay được chia thừa kế theo pháp luật cho 06 người là ông L, ông L1, ông N, ông H, bà M và bà N1, mỗi người được hưởng 53.842.000 đồng : 6 = 8.973.700 đồng (làm tròn số). Bà N1 cho ông N được hưởng phần của bà nên ông N được hưởng 8.973.700 đồng x 2 = 17.947.400 đồng.
Tổng cộng cả trị giá đất và tài sản là di sản trên đất thì các đương sự được hưởng cụ thể như sau:
- Ông H được hưởng di sản trị giá: 179,1m² đất trị giá 179.100.000 đồng + tài sản trên đất 8.973.700 đồng = 188.073.700 đồng;
- Ông N được hưởng: 51,2m² đất trị giá 51.200.000 đồng + 17.947.400 đồng tài sản trên đất = 69.147.400 đồng;
- Ông L, ông L1, và bà M mỗi người được hưởng: 25,6m² đất trị giá 25.600.000 đồng + 8.973.700 đồng tài sản trên đất = 34.573.700 đồng.
Do thửa đất các cụ để lại có chiều ngang rộng hơn 19m và ông H, ông L đề nghị được chia bằng hiện vật nên cần chia di sản bằng hiện vật. Hiện ông H đang ở trên đất và phần đất ông được hưởng nhiều nhất nên chia cho ông H 179,1m² đất đúng bằng diện tích đất ông được hưởng của các cụ. Diện tích đất còn lại 128m² nên chia cho ông L vì ông ở xa (Thái Nguyên) muốn về quê hương để ở, các đương sự khác đã có nhà đất ở Vĩnh Phúc nên được chia bằng tiền. Cụ thể:
- Chia cho ông H 179,1m² đất thổ cư trị giá 179.100.000 đồng được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 5A, 9A, 10, 11, 1 (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án) và những di sản trên diện tích đất đó gồm: 36,8m² nhà trị giá 18.400.000 đồng, 32m² bếp (nhà ngang) trị giá 16.000.000 đồng, 01 giếng khoan trị giá 2.880.000 đồng, 01 cây bưởi trị giá 400.000 đồng; tường bao loan dài 6,12m + trụ cổng trị giá 612.000 đồng. Tổng là 217.392.000 đồng. Như vậy, trị giá hiện vật di sản ông H được chia là 217.392.000 đồng lớn hơn phần trị giá di sản ông được hưởng theo di chúc và theo pháp luật là 217.392.000 đồng - 188.073.700 đồng = 29.318.300 đồng. Ông H có trách nhiệm thanh toán phần vượt quá mức được hưởng cho người thừa kế khác là ông L1 29.318.300 đồng. Ngoài ra vợ chồng ông H và bà L3 được sở hữu sử dụng các tài sản của vợ chồng ông H tạo dựng được gồm: 01 téc nước Inox 10001 trị giá 2.500.000 đồng, 56,2m² sân bê tông trị giá 56,2m² x 70.000 đồng/m² =3.934.000 đồng, mái lợp tôn năm 2020 trị giá 5.220.000 đồng.
- Chia cho ông L 128m² đất thổ cư còn lại trị giá 128.000.000 đồng được giới hạn bởi các điểm 5A, 6, 7, 8, 9, 9A, 5A (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án) và những di sản trên diện tích đất đó gồm: 25,2m² nhà trị giá 12.600.000 đồng, 01 cây mít trị giá 750.000 đồng; 22m tường bao loan trị giá 2.200.000 đồng. Tổng là 143.550.000 đồng. Phần trị giá di sản ông được hưởng theo pháp luật là 34.573.700 đồng. Ông có trách nhiệm thanh toán phần vượt quá mức được hưởng cho người thừa kế khác là 143.550.000 đồng - 34.573.700 đồng = 108.976.300 đồng. Cụ thể, buộc ông L thanh toán cho ông N 69.147.400 đồng, thanh toán cho bà M 34.573.700 đồng và ông L1 5.255.200 đồng.
Ngoài ra, trên phần đất ông L được chia có 16,8m² sân do vợ chồng ông H làm trị giá 16,8m² x 70.000 đồng/m² = 1.176.000 đồng, do đó ông L có nghĩa vụ thanh toán tiền sân bê tông cho vợ chồng ông H, bà L3 1.176.000 đồng.
[3]. Trong vụ án này, ông Trần Văn H là người quản lý di sản thừa kế và có công trong việc giữ gìn, tôn tạo, bảo quản di sản nhưng Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét công sức cho ông H là chưa phù hợp. Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, ông H không có kháng cáo đồng thời không có ý kiến gì và vắng mặt tại phiên toà nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[4]. Tổng hợp những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tài liệu, chứng có trong hồ sơ, đưa ra quyết định là có căn cứ, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên đương sự. Tại cấp phúc thẩm, phía nguyên đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu khác có thể làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5]. Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận, theo quy định ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông L là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bác kháng cáo của ông Trần Văn L; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về án phí: Ông Trần Văn L được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hải |
Bản án số 200/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp chia di sản thừa kế, đòi tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 200/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế, đòi tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Văn L và BĐ: Trần Văn L1 vụ án "Tranh chấp chia di sản thừa kế, đòi tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
