|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Bản án số: 200/2021/DSPT Ngày: 17-11-2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tấn Long.
Ông Lê Tự.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Nguyễn Chiến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17-11-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 257/2021/TLPT-DS ngày 14-9-2021 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2021/DS-ST ngày 26-7-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 266/QĐ-PT ngày 01-11-2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Võ K (tên gọi khác: Võ K), sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.
- Bà Đặng Thị N, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Bà Đặng Thị N (Văn bản ủy quyền ngày 13-10-2017), bà N có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn:
- Ông Võ Như T (tên gọi khác: Võ T), sinh năm 1956; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1958; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Võ Như T, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Ngọc A - Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (Văn bản ủy quyền ngày 04-01-2018), vắng mặt. - Chị Võ Thị Tuyết T, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.
- Anh Võ Như Đăng Q, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1962; địa chỉ cư trú: Khối Q 2, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (Văn bản ủy quyền ngày 11-8-2020 và ngày 21-7-2021), bà N có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, do bà Đặng Thị N đại diện trình bày:
Hộ gia đình ông Võ K được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện Đ (nay là thị xã Đ) có Quyết định cấp đất số 441/QĐ-UB ngày 30-9-1988. Đến năm 1995, được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0164982 ngày 24-11-1995, với diện tích 600 m2 đất thổ cư tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 07. Lúc làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là Giấy CNQSDĐ) cho hộ của ông K, do đo đạc không chính xác nên chỉ có 600 m2 nhưng diện tích sử dụng thực tế của hộ ông K nhiều hơn 600 m2, cụ thể: Theo kết quả đo đạc vào năm 2009 của Dự án nâng cấp, mở rộng tuyến đường ĐT 607, thì diện tích hộ ông K là 723,5 m2 (có bản sao kèm theo). Kể từ khi được nâng cấp đất, gia đình ông K sử dụng ổn định, không lấn chiếm của ai. Năm 2015, Nhà nước mở rộng đường ĐT 607 đã thu hồi của hộ ông K diện tích 194,3 m2, nên diện tích còn lại theo Giấy CNQSDĐ là 405,7 m2. Hộ liền kề phía sau là ông Võ T và bà Lê Thị M đã chôn cột tre, giăng dây điện và đem chậu cây cảnh để vào đất vườn, đã lấn chiếm diện tích 66 m2 của hộ ông K. Trên đất tranh chấp hiện nay không có tài sản gì.
Nay, ông Võ K và bà Đặng Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc hộ ông Võ T và bà Lê Thị M chấm dứt hành vi lấn chiếm đất với chiều dài 36,58 m và chiều rộng 1,81 m, diện tích 66 m2 và hoàn trả lại hiện trạng diện tích đất ban đầu khi chưa lấn chiếm. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định lại tài sản tranh chấp.
Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn là anh Võ Như T trình bày:
Anh là con ông Võ T (Võ Như T) và bà Lê Thị M. Nguồn gốc thửa đất hiện nay ông Võ K và bà Đặng Thị N tranh chấp với cha, mẹ anh là của ông Võ C (ông nội anh) ở từ trước năm 1975. Đến năm 1978, khi cha lập gia đình, thì ông nội cho cha, mẹ của anh làm nhà ở trên thửa đất này.
Theo bản đồ 299 thì thửa đất cha, mẹ anh làm nhà ở có diện tích 938 m2 thuộc thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05, tại khối phố Q 2, phường Đ hiện nay (năm 1979, tổ chia đất do ông Võ L làm Tổ trưởng vẫn xác nhận thửa đất này là của cha, mẹ anh). Do các con còn nhỏ, nên khi làm lại nhà thì cha, mẹ anh làm sâu vào bên trong, thuộc thửa đất số Hg13, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.760 m2 (thửa đất này gia đình anh đang canh tác). Còn thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05, diện tích 938 m2 phía trước, cha mẹ anh vẫn tiếp tục canh tác hoa màu. Đến năm 1990, vợ chồng ông Võ K, bà Đặng Thị N đến xin đất dựng nhà ở nhờ trên một phần thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05 và được cha, mẹ anh đồng ý. Sau một thời gian, cha mẹ anh nhiều lần yêu cầu ông K, bà N tháo dỡ nhà để trả lại đất, nhưng ông K, bà N không thực hiện. Kết quả là ông K, bà N tiếp tục chiếm dụng một phần thửa đất này nên đã xảy ra tranh chấp giữa hai hộ kéo dài. Đến ngày 04-5-1994, thực hiện đăng ký đất đai theo Nghị định 64/CP, ông Võ K tự ý đăng ký một phần thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05, với diện tích 600 m2, trong khi gia đình anh vẫn tiếp tục canh tác trên thửa đất này (trừ diện tích cho ông K làm nhà ở tạm, hiện nay vẫn đang sử dụng, canh tác).
Đối với thửa đất số Hg13, tờ bản đồ số 05, diện tích 1.760 m2 cha, mẹ anh không kê khai, đăng ký nhưng vẫn có Hồ sơ kê khai ngày 01-5-1994 do mẹ anh ký tên là Lê Thị M, nhưng thực chất mẹ anh không biết chữ. Từ trước đến nay, giữa 02 hộ không có hàng rào ranh giới, vì trừ diện tích ông K và bà N làm nhà, thì toàn bộ diện tích còn lại của thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05 gia đình anh quản lý, sử dụng cho đến nay, không tranh chấp với ai.
Đến năm 2012, gia đình anh mới biết hộ ông Võ K được UBND huyện (nay là thị xã) Đ cấp Giấy CNQSD đất số E 0164982 ngày 24-11-1995 đối với thửa số 14, tờ bản đồ số 07, diện tích 600 m2 chồng lên thửa số 12, tờ bản đồ số 05, diện tích 938 m2 do cha, mẹ anh đứng tên đăng ký theo Chỉ thị 299, nhưng UBND thị xã Đ lại không ban hành Quyết định thu hồi đất của cha, mẹ anh để cấp cho hộ ông K, bà N. Nhận thấy Giấy CNQSD (nêu trên) mà UBND thị xã Đ cấp cho hộ ông Võ K sai đối tượng, nằm chồng lên thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05, diện tích 938 m2 có nguồn gốc do cha, mẹ anh đứng tên đăng ký theo Chỉ thị 299 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của mình, nên cha, mẹ anh có đơn phản tố yêu cầu Tòa án hủy Giấy CNQSD đất của ông Võ K để trả lại diện tích đất này cho cha, mẹ anh.
Đối với việc xác định ranh giới theo hiện trạng đất giữa hai hộ đã được Tòa án nhân dân thị xã Đ đo đạc ngày 01-3-2018 rất cụ thể, anh không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Ngày 02-8-2021, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án; đơn kháng cáo của đương sự là trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, người kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của đương sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của đương sự:
[2.1]. Về tố tụng: Nguyên đơn ông Võ K và bà Đặng Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc hộ ông Võ Như T và bà Lê Thị M chấm dứt hành vi lấn chiếm đất với diện tích 66 m2 và hoàn trả lại hiện trạng diện tích đất ban đầu. Bị đơn có đơn phản tố yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Võ K. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt” là đúng quy định.
[2.2]. Về nội dung: Theo Công văn số 138/TNMT ngày 13-7-2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Đ thì diện tích đất trước khi được UBND huyện cấp cho ông Võ K và bà Đặng Thị N có nguồn gốc: Nguyên thửa đất hiện nay ông Võ K và bà Đặng Thị N tranh chấp với ông Võ Như T và bà Lê Thị M, do ông Võ Như T đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299/TTg là thửa đất số 12, tờ bản đồ số 05, diện tích 938 m2, loại đất Thổ cư (T). Ông Võ K và bà Đặng Thị N được UBND huyện Đ cấp 200 m2 tại Quyết định số 441/QĐ-UB ngày 30-9-1988. Đến ngày 24-11-1995, hộ ông Võ K được UBND huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất thửa đất số 14, tờ bản đồ số 07, diện tích 600 m2. Năm 2015, Nhà nước mở rộng đường ĐT 607, thu hồi diện tích 194,3 m2 đất của vợ chồng ông K và bà N, nên diện tích còn lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 405,7 m2.
[2.2.2]. Về diện tích đất tranh chấp: Theo Biên bản hòa giải ngày 17-02-2020, diện tích đất tranh chấp theo sự xác định của nguyên đơn là 66 m2. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam chỉ chấp nhận “Diện tích đất tranh chấp theo sự xác định của nguyên đơn là 66 m2; trong đó: Phần diện tích đất ông Võ K và bà Đặng Thị N tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp năm 1995 còn lại 405,7 m2 là 48,8 m2 và phần diện tích đất 17,2 m2 không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp năm 1995 của hộ ông Võ K” là đúng pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Võ K (tên gọi khác: Võ K) và bà Đặng Thị N.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2021/DS-ST ngày 26-7-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
2. Căn cứ các Điều 158, 163, 164, 166, 169, 175, 189 và 190 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 100, 166, 170 và 203 của Luật Đất đai năm 2013.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ K và bà Đặng Thị N. Buộc ông Võ Như T và bà Lê Thị M chấm dứt hành vi lấn chiếm diện tích 48,8 m2 đất nằm trong thửa đất số 14, tờ bản đồ số 07, diện tích 405,7 m2 đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00601 QSDĐ/Q.Nam ngày 24-11-1995 cho hộ ông Võ K và hoàn trả lại diện tích đất nêu trên cho ông Võ K và bà Đặng Thị N.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Võ Như T, bà Lê Thị M chấm dứt hành vi lấn chiếm diện tích 17,2 m2 đất và hoàn trả lại diện tích đất trên cho ông Võ K, bà Đặng Thị N.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí: Ông Võ K và bà Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - TANDTC - Vụ II; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - Cục THA dân sự tỉnh Quảng Nam; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: H/sơ vụ án, Phòng HCTP, LTHS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Cường |
Bản án số 200/2021/DSPT ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Số bản án: 200/2021/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là ông Võ K (tên gọi khác: Võ K) và bà Đặng Thị N. - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2021/DS-ST ngày 26-7-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
