|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 200/2021/DS-PT Ngày 17-11-2021 V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm.
Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Tùng; Bà Dương Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hòa là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2021 về việc Tranh chấp thừa kế tài sản.
Do có Quyết định giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm, giao xét xử lại theo trình tự phúc thẩm đối với kháng cáo của đồng nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Th.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 220/2021/QĐ-PT ngày 27 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- 1.1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1950; cư trú tại: Số X, đường Y, khu phố HT, phường HN, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- 1.2. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1956; cư trú tại: B4, khu phố LT, phường L TT , thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- 1.3. Bà Nguyễn Thị Th, sinh ngày 11-11- 1961; cư trú tại: Số U, đường M, khu phố HĐ, phường H T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ, bà A, bà Th: Luật sư Phạm Lê Duy, công tác tại Công ty Luật TNHH Đặng Minh Đăng, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Bị đơn:
- 2.1. Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1991; cư trú tại: Khu phố ND, phường NT, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh;
- 2.2. Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1993; cư trú tại: Khu phố ND, phường NT, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của chị T, anh T1: Anh Phạm Văn Tình, sinh năm 1985; cư trú tại: Khu phố Ninh An, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (theo Văn bản ủy quyền ngày 03-01-2020); có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Chị Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1984; cư trú tại: Số Z, ấp 1, xã PV, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh;
- 3.2. Bà Hồ Nguyệt T2, sinh năm 1957; cư trú tại: Số Z, ấp 1, xã PV , huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Th - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 18-11-2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Th (nguyên đơn) và người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn tại các giai đoạn tố tụng trước đây thống nhất trình bày:
Cha mẹ của ông Đ, bà A, bà Th là cụ ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1926, mất năm 1986; cụ bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1925, mất năm 2017. Hai cụ có tất cả 04 người con: Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị A, Nguyễn Thị Th và Nguyễn Văn Nh; hai cụ không có con nuôi, không có con ngoài giá thú, cha mẹ của hai cụ đều đã chết.
Trong thời gian chung sống cụ O và cụ Ng có tạo lập được nhiều tài sản chung và sau khi cụ O chết thì vào khoảng năm 1990 cụ Ng và các con trong gia đình đã thống nhất chia tài sản do hai cụ để lại, cụ thể như sau: Đất ruộng 4,5 ha tại ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (chia cho ông Đ 1,2 ha; bà A 01 ha; bà Th 01 ha; ông Nh 1,3 ha) đã bán vào năm 1990. Đất rẫy 3,1 ha tại ấp Ninh Nghĩa, xã Ninh Thạnh, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh) chia cho Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn Nh. Riêng phần đất thổ cư diện tích 1.055 m2, thửa số 131, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại khu phố ND, phường NT, thành phố Tây Ninh để lại sinh hoạt gia đình, sau khi cụ O chết thì cụ Ng sống chung với vợ chồng ông Nguyễn Văn Nh trên phần đất này. Vào năm 1995, ông Nh đăng ký và được Ủy ban nhân dân (viết tắt là: UBND) huyện Hòa Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là: GCNQSDĐ). Trong thời gian sống trên đất, ông Nh đã chuyển nhượng cho hai người nên diện tích đất còn lại là 697 m2. Năm 2019, ông Nh chết, ông Nh có vợ là bà Hồ Nguyệt T2 nhưng đã ly hôn; ông Nh có 03 người con là Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Minh T2 đất này hiện các con ông Nh quản lý.
Ông Đ, bà Th, bà A thống nhất yêu cầu chia diện tích đất trên thành 04 phần bằng nhau; cho các con của ông Nh một phần; các ông bà mỗi người nhận một phần trị giá thành tiền. Ngoài ra không yêu cầu chia tài sản gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của các nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các đương sự kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Các nguyên đơn cho rằng phần đất thổ cư còn lại là 697 m2 thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ số 10, đo đạc thực tế diện tích 622,8 m2 do ông Nguyễn Văn Nh đứng tên là di sản do cha mẹ để lại. Phía bị đơn cho rằng đất tranh chấp là tài sản của vợ chồng ông Nh được cha mẹ ông Nh tặng cho từ năm 1995.
[3] Xét kháng cáo của các nguyên đơn thấy rằng: Mặc dù các đương sự đều thừa nhận đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ ông Đ. Tuy nhiên, sau khi cụ Nguyễn Văn O chết thì cụ Nguyễn Thị Ng cùng các con đã thống nhất phân chia tài sản chung của hai cụ; trong đó có quyền sử dụng đất diện tích là diện tích 1.055m2, thửa đất số 131, tờ bản đồ số 10 được cụ Ng đồng ý để ông Nh đứng tên kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất thể hiện tại “Giấy giao quyền sử dụng nhà đất thổ cư” có chữ ký và điểm chỉ của ông Đ, bà Th và bà Ng được UBND xã ND thị thực ngày 23-9-1994. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Th là có căn cứ, phù hợp tại Án lệ số 24/2018/AL nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Th;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2019/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị Th đối với chị Nguyễn Ngọc T, anh Nguyễn Minh T1, chị Nguyễn Ngọc C về “Tranh chấp thừa kế tài sản” phần đất diện tích 622,8 m2 thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ số 10, (tương ứng thửa 51, tờ bản đồ số 27), tọa lạc tại khu phố ND, phường NT, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Văn Nh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02146 QSDĐ/D4, cấp ngày 19-12-1995.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Th chịu 300.000 đồng. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị A được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND TP.Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - CCTHADS TP.Tây Ninh; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ; - Các đương sự; - Lưu tập án; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 200/2021/DS-PT ngày 17/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 200/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế tài sản giữa ông Đ với chị T
