TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 20/2024/HSST Ngày: 30/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Lan
Bà Lê Hoàn Sinh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn tham gia phiên tòa : Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TL-HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình K
(tên gọi khác không), sinh ngày 17/3/1998 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi thường trú: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ở hiện tại: thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ văn hóa: 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1963 và bà Lê Thị H, sinh năm 1972; có vợ Nguyễn Diệu L, sinh năm 1999; có 03 con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/3/2024 đến ngày 05/4/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Xuân T, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Lê Xuân K1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
1
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng: Anh Lê Sỹ T1, sinh năm 1979 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà A, Nguyễn Mộng T2, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 30 tháng 3 năm 2024 Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma tuý Công an huyện Đ và Công an xã Đ, huyện Đ tiến hành kiểm tra phòng 404 khách sạn S ở thôn T, xã Đ, huyện Đ phát hiện trong phòng có Nguyễn Đình K vừa sử dụng trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho Lê Xuân T, sinh năm 1993, ở thôn Q, xã Đ, huyện Đ. Đội cảnh sát Kinh tế - Ma tuý đã tiến hành thu giữ 01 gói ma tuý (ký hiệu M2), 01 tờ giấy bạc có bám dính chất màu đen (ký hiệu M1); 01 cân tiểu ly, 01 bật lửa đồng thời lập biên bản vụ việc và đưa K về trụ sở Công an làm việc. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đình K làm đơn xin đầu thú và giao nộp 01 điện thoại Cubot có gắn sim 0862356234, 0971879646 và 500.000 đồng.
Ngày 30 tháng 3 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trưng cầu giám định khối lượng chất nghi là ma túy đã thu của Nguyễn Đình K
Tại Bản kết luận giám định số 1364/ KL- KTHS ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Tìm thấy chất ma tuý, loại: Heroine (Heroin) trong sỉ màu đen bám dính trên tờ giấy bạc của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.
- Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý. Có tổng khối lượng 0,526g loại: Heroinne.
Quá trình điều tra Nguyễn Đình K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án; lời khai của K được thể hiện như sau:
Vào tối ngày 29/03/2024 Nguyễn Đình K thuê phòng 404 khách sạn S ở thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa ở. Đến khoảng 9 giờ 20 phút ngày 30/03/2024 khi K ngủ dậy thì thấy có cuộc gọi nhỡ của Lê Xuân T sinh năm 1993 ở thôn Q, xã Đ, huyện Đ nên đã gọi lại cho T và rủ T đến phòng 404 chơi. Sau khi được K rủ đến phòng 404 chơi, khoảng 10 phút sau anh T đến ngồi nói chuyện một lúc thì K đưa cho T 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) nhờ T đi mua nước ngọt và thuốc lá. T cầm tiền đi mua khi T đi ra khỏi phòng, K lấy ở trong người ra một gói nilong chứa ma túy, rồi lấy ra một ít ma túy và để sẵn trên bàn; số ma tuý còn lại K dùng bật lửa hàn lại để trên bàn. Một lúc sau T mang nước ngọt, thuốc lá về đưa cho K, K liền bóc bao thuốc lá ra lấy một ít giấy bạc trong
2
bao thuốc lá, rồi lấy ma túy để sẵn ở bàn cho vào tờ giấy bạc, dùng bật lửa đốt để sử dụng. K sử dụng được khoảng 5 lần thì hết. K tiếp tục lấy ma túy còn lại để sẵn trên bàn cho vào trong tờ giấy bạc rồi dùng bật lửa đốt cầm cho T sử dụng. T sử dụng hết số ma túy thì lực lượng công an đến, Thấy vậy K cầm ma túy chạy vào trong nhà vệ sinh định bỏ vào bồn cầu nhưng chưa kịp xả thì bị thu giữ 01 gói ma túy, 01 tờ giấy bạc có bám dính chất sỉ màu đen, 01 cân tiểu ly, 01 bật lửa.
Ngoài ra Nguyễn Đình K còn khai nhận thêm: Vào khoảng 14 giờ ngày 29/03/2024 khi K đang từ Thanh Hóa đi ra Hà Nội thì Lê Xuân K1 sinh năm 1986 ở thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa dùng số điện thoại 0975.877.xxx gọi vào số 0971.879.646 của K để hỏi mua ma túy. K đồng ý bán cho K1 một gói ma túy với giá 250.000 đồng và yêu cầu K1 chuyển tiền mua ma túy và tiền nợ trước đó là 500.000 đồng vào số tài khoản 38888183888 Ngân hàng MB của K. Do K1 không dùng tài khoản Ngân hàng nên K1 đã đến của hàng điện thoại của anh Lê Sỹ T1 ở Khu phố C, thị trấn R, huyện Đ nhờ tài khoản anh T1 chuyển cho K số tiền là 750.000 đồng. Sau khi chuyển tiền xong thì K1 gọi điện thoại để hỏi K nhận được tiền chưa, K nói đã nhận được tiền và hẹn K1 khi nào về K sẽ gọi K1 đến khách sạn lấy ma túy. Tiếp đó khoảng 17 giờ cùng ngày khi K đang ở Hà Nội thì có Nguyễn Văn H1, sinh năm 1986 ở thôn N, xã Đ, huyện Đ dùng số điện thoại 0932.453.xxx gọi điện thoại cho K hỏi mua ma túy. K đồng ý bán cho H1 một gói ma túy với giá 500.000 đồng và hẹn H1 khi nào từ Hà nội về sẽ gọi cho H1 đến lấy ma túy. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày K đang trên đường từ Hà Nội về thì K1 và H1 gọi cho K, K hẹn cả hai đến Khách sạn S đợi K. Đến khoảng 21 giờ K về tới Khách sạn gặp K1 và H1, K nói K1 và H1 lên phòng 404 để lấy ma túy. Khi lên đến phòng H1 đưa cho K 500.000 đồng, K đưa cho H1 và K1 mỗi người một gói ma túy. Sau khi mua ma tuý xong H1 và K1 đi về. Đến chiều ngày 30/03/2024 Công an triệu tập H1 và K1 lên làm việc. H1 và K1 cũng đã khai nhận toàn bộ nội dung đã mua ma túy của K như đã nêu trên.
Về vật chứng:
- Vật chứng thu giữ trong vụ án là gói giấy chứa chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,526g (không phẩy năm hai sáu gam) loại: Heroine; sau giám định còn là 0,490g (không phẩy bốn chín không gam); Tìm thấy chất ma túy loại Heroine có bám dính trong sỉ màu đen ở trên tờ giấy bạc của phong bì niêm phong ký hiện M1 gửi giám định. Tất cả được đựng trong phong bì do phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của đồng chí Nguyễn Minh T3, Mai Văn M và các hình dấu của phòng K2 Công an tỉnh T.
- 01(một) điện thoại Cubot màu đen bên trong có gắn sim số 0862356234 và 0971879646 điện thoại đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là của K. K sử dụng chiếc điện thoại nhằm mục đích giao dịch để bán ma túy cho K1 và H1.
3
- 01(một) cân tiểu ly màu đen. Chiếc cân này K dùng cho việc phân chia ma túy để bán cho các đối tượng.
- 01(một) bật lửa. Đây là C bật lửa K dùng đốt ma túy cho T3 sử dụng.
- Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) là tiền K đã bán ma túy cho H1. Khi K đầu thú, đã giao nộp lại số tiền này.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 7 PLus màu trắng, bên trong gắn sim số 0975877667 thu giữ của Lê Xuân K1; 01 điện thoại Iphone 6S PLus màu trắng, bên trong gắn sim số 0932453690 thu giữ của Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, bên trong gắn sim số 0985103031 thu giữ của Lê Xuân T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành kiểm tra, trích xuất cuộc gọi đến, gọi đi, giao dịch chuyển khoản và làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý đồ vật bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh H1, anh T, anh K1.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Đình K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 2, 5 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51BLHS về tội Mua bán trái phép chất ma túy;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình K từ 08 đến 09 năm.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Đình K 5.000.000 đồng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51BLHS về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình K từ 03 đến 04 năm tù.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS để cộng hai tội thành hình hình phạt chung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
01 gói giấy chứa chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,526g (không phẩy năm hai sáu gam) loại: Heroine; sau giám định còn là 0,490g (không phẩy bốn chín không gam); Tìm thấy chất ma túy loại Heroine có bám dính trong sỉ màu đen ở trên tờ giấy bạc của phong bì niêm phong ký hiện M1 gửi giám định. Tất cả được đựng trong
4
phong bì do phòng K2 Công an tỉnh T phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của đồng chí Nguyễn Minh T3, Mai Văn M và các hình dấu của phòng K2 Công an tỉnh T.
01 (một) điện thoại Cubot màu đen bên trong có gắn sim số 0862356234 và 0971879646 điện thoại đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là của K. K sử dụng chiếc điện thoại nhằm mục đích giao dịch để bán ma túy cho K1 và H1.
- 01(một) cân tiểu ly màu đen. Chiếc cân này K dùng cho việc phân chia ma túy để bán cho các đối tượng.
01 (một) bật lửa, đây là Chiếc bật lửa K dùng đốt ma túy cho T3 sử dụng.
Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) là tiền K đã bán ma túy cho H1. Khi K đầu thú đã giao nộp lại số tiền này.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 7 PLus màu trắng, bên trong gắn sim số 0975877667 thu giữ của Lê Xuân K1; 01 điện thoại Iphone 6S PLus màu trắng, bên trong gắn sim số 0932453690 thu giữ của Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, bên trong gắn sim số 0985103031 thu giữ của Lê Xuân T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành kiểm tra, trích xuất cuộc gọi đến, gọi đi, giao dịch chuyển khoản và làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý đồ vật bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Văn H1, Lê Văn T4, Lê Xuân K1.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng : Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Do nghiện hút ma túy và muốn có tiền chi tiêu cho bản thân nên khoảng 21 giờ ngày 29/3/2024 tại phòng 404 khách sạn S thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ. Nguyễn Đình K đã bán 01 gói ma tuý với giá 250.000 đồng cho Lê Xuân K1 và bán 01 gói ma tuý với giá 500.000
5
cho Nguyễn Văn H1. Đến khoảng 11 giờ ngày 30/3/2024, K tiếp tục có hành vi chuẩn bị ma tuý, bỏ ma tuý vào giấy bạc, dùng bật lửa đốt rồi cầm cho T4 sử dụng.
Hành vi bán trái phép chất ma tuý của K cho K1 và H1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 và hành vi chuẩn bị địa điểm, ma tuý, dụng cụ và đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể Lê Xuân T của K đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các bản tự khai và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi bán trái phép chất ma tuý của K cho K1 và H1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 và hành vi chuẩn bị địa điểm, ma tuý, dụng cụ và đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể Lê Xuân T của K đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng không những đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo K là đối tượng nghiện ma túy nên đã mua ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân tệ nạn nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, lây truyền bệnh HIV... Do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Đình K đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Cơ quan Công an để đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[7] Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về nguồn gốc số ma túy K bán cho Lê Xuân K1, Nguyễn Văn H1 và số ma tuý K tổ chức sử dụng cho Lê Xuân T. K khai là mua với giá 1.000.000 đồng
6
vào ngày 28/03/2024 của một người nam giới tên là T5, khoảng 40 tuổi, người gầy, đi xe máy visson màu đen không nhớ biển kiểm soát, không biết địa chỉ, tại khu vực đường G thuộc Cầu vượt Đ, Đ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được người đã bán ma túy cho bị can K, Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ tài liệu chứng cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê xuân T6 và hành vi mua ma tuý của Lê Xuân K1, Nguyễn Văn H1 để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý K1 và H1 đã sử dụng hết; do số ma tuý đã sử dụng hết nên không xác định được loại ma tuý và khối lượng ma tuý nên không đủ cơ sở xử lý hình sự; do đó, Hành vi của K1, H1, T6 đã bị xử phạt hành chính theo khoản 1 điều 23 nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.
[8] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì do phòng K2 Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Văn T4, Mai Văn M và các hình dấu của phòng K2 Công an tỉnh T. Bên trong có chứa tờ giấy bạc có bám chất sỉ màu đen tìm thấy ma túy, loại Heroin của phong bì ký hiệu M1; chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu M2 gửi giám định còn 0,490g là ma túy, loại Heroin là những mẫu vật còn lại sau giám định.
- 01 Cân tiểu ly màu đen ;
- 01 Bật lửa ;
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước
- 01 Điện thoại nhãn hiệu Cubot màu đỏ đen, có gắn sim 0862.356.234 và 0971.879.646 điện thoại đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng tại Ủy nhiệm chi ký hiệu C4-02a/KB số 15 ngày 20/06/2024.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 7 PLus màu trắng, bên trong gắn sim số 0975877667 thu giữ của Lê Xuân K1; 01 điện thoại Iphone 6S PLus màu trắng, bên trong gắn sim số 0932453690 thu giữ của Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, bên trong gắn sim số 0985103031 thu giữ của Lê Xuân T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành kiểm tra, trích xuất cuộc gọi đến, gọi đi, giao dịch chuyển khoản và làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý đồ vật bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh H1, anh T, anh K1 là phù hợp.
[9] Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
7
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ: điểm c khoản 2, 5 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS về tội Mua bán trái phép chất ma túy ; khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đình K 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai tội là 11 năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 30/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 5.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì do phòng K2 Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Văn T4, Mai Văn M và các hình dấu của phòng K2 Công an tỉnh T. Bên trong có chứa tờ giấy bạc có bám chất sỉ màu đen tìm thấy ma túy, loại Heroin của phong bì ký hiệu M1; chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu M2 gửi giám định còn 0,490g là ma túy, loại Heroin là những mẫu vật còn lại sau giám định.
- 01 Bật lửa;
Tịch thu phát mãi sung quỹ Nhà nước:
- 01 Cân tiểu ly màu đen
- 01 Điện thoại nhãn hiệu Cubot màu đỏ đen, có gắn sim 0862.356.234 và 0971.879.646 điện thoại đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng tại Ủy nhiệm chi ký hiệu C4-02a/KB số 15 ngày 20/06/2024.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo Nguyễn Đình K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
8
Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Hà |
9
Bản án số 20/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy’ và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
