TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2024/DS-ST Ngày: 30 - 5 - 2024 “V/v tranh chấp chia tài sản chung, chia di sản thừa kế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Múth So Ny và ông Phạm Thanh Hải;
- Thư ký phiên toà: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2023/TLST-DS ngày 04/10/2023, về việc “Chia tài sản chung, chia di sản thừa kế”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1950; địa chỉ nơi cư trú: Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
Có chị Trần Thị Ký Út T, sinh năm 1991; địa chỉ nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang làm đại diện theo Hợp đồng ủy quyền ngày 13/10/2023; (có mặt).
- Bị đơn: Chị Trần Thị N1 (tên gọi khác: Ký Chị), sinh năm 1977; địa chỉ nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Trần Ký E, sinh năm 1979; địa chỉ nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (chết ngày 06/12/2023);
Đồng thừa kế của ông Trần Ký E:
1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1950; địa chỉ nơi cư trú: Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
2. Chị Noèng T1, sinh năm 1980; địa chỉ nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt, không yêu cầu phiên dịch).
3. Cháu Trần Kỳ N2, sinh năm 2005; địa chỉ nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
4. Cháu Trần Kỳ Q, sinh năm 2008; địa chỉ nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
+ Chị Trần Ký T2, sinh năm 1980; địa chỉ nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
+ Chị Trần Ký N3, sinh năm 1981; địa chỉ nơi cư trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; (có mặt).
+ Chị Trần Ký S, sinh năm 1983; địa chỉ nơi cư trú: Khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; (có mặt).
+ Chị Trần Thị Ký Út T, sinh năm 1991; địa chỉ nơi cư trú: Khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn N (có chị Trần Thị Ký Út T làm đại diện theo ủy quyền) trình bày: Ông Trần Văn N và và Lâm Thị N4 (chết ngày 06/3/2023) có 06 người con tên Trần Thị N1, Trần Ký E (chết năm 2024), Trần Ký T2, Trần Ký N3, Trần Ký S và Trần Thị Ký Út T.
Trong thời gian chung sống ông N và bà N4, vào năm 2000 có nhận chuyển nhượng từ bà Lâm Thị L phần đất diện tích 17.885m² thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 52, đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 01/10/2020 cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 đứng tên.
Tháng 3/2023, bà Lâm Thị N4 chết không để lại di chúc. Sau khi bà N4 chết, ông N vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng đất này. Nay bà Trần Thị N1 đòi chia tài thừa kế 04 công trong tổng số đất trên. Do trong gia đình không thể thỏa thuận được nên ông N yêu cầu Tòa án chia tài sản chung phần đất diện tích 17.885m² làm hai phần và nhận diện tích 8.942,5m²; đồng thời yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bà Lâm Thị N4 có diện tích 8.942,5m² thành 07 phần bằng nhau, tương ứng mỗi phần 1.277,5m²; Ông yêu nhận 1/7 đối với diện tích 8.942,5m² của bà Lâm Thị N4, ông đồng ý chia 06 phần còn lại cho 06 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất; Đối với kỷ phần thừa kế của anh Trần Ký E, ông đồng ý để cho vợ và con anh Trần Ký E quản lý và sử dụng; Đối với cây trồng, kiến trúc trên đất sau khi phân chia nằm trên đất của ai người đó sử dụng không yêu cầu xem xét giải quyết.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bị đơn chị Trần Thị N1 trình bày:
Ông Trần Văn N và và Lâm Thị N4 (chết ngày 06/3/2023) có 06 người con tên Trần Thị N1, sinh năm 1977 (tên gọi khác: Ký Chị), Trần Ký E (chết ngày 03/12/2023), Trần Ký T2, sinh năm 1980, Trần Ký N3, sinh năm 1981, Trần Ký S, sinh năm 1983 và Trần Thị Ký Út T, sinh năm 1991; Bà cho rằng nguồn gốc phần đất diện tích 17.885m² là của mẹ bà Lâm Thị N4 (chết ngày 06/3/2023) mua của bà Lâm Thị L vào năm 2006 với giá 02 cây vàng 24kara; khi mua bán, bà làm tại Campuchia, ông Trần Văn N lên gặp bà lấy vàng về trả cho bà L; Đến năm 2012, bè L thiếu tiền bà 10.0000.000 đồng, bà L kêu bà bán 115.000.000 đồng, do mẹ bà Lâm Thị N4 trả tiền có cấn trừ 10.000.000 đồng tiền bà L thiếu nợ bà, của ông Trần Văn N bỏ ra 50.000.000 đồng, của Trần Ký E 01 cây vàng để bù vào mua toàn bộ số đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lâm Thị N4 đứng tên; Nay bà không đồng ý với yêu cầu chia theo như yêu cầu của ông Trần Văn N; Bà yêu cầu chia toàn bộ diện tích đất 17.885m² làm 07 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng diện tích 2.555m².
Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bà Trần Thị N1 yêu cầu chia thêm phần đất diện tích khoảng 8.000m², vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Cây trồng, vật kiến trúc trên phần đất của ai được chia, người đó nhận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,
Chị Trần Ký T2, chị Trần Ký N3, chị Trần Ký S, chị Trần Thị Ký Ú Tiên đồng trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Trần Văn N, ông Trần Văn N và và Lâm Thị N4 (chết ngày 06/3/2023) có 06 người con tên Trần Thị N1, Trần Ký E (chết tháng 12/2023), Trần Ký T2, Trần Ký N3, Trần Ký S và Trần Thị Ký Út T; Trong thời gian chung sống, ông N và bà N4 có tạo lập được tài sản là phần đất diện tích 17.885m2, tọa lạc tại ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN:CS05749, các chị đồng thống nhất theo yêu cầu của ông Trần Văn N, yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật di sản là phần đất diện tích 8.942,5m2 do bà Lâm Thị N4 (chết) để lại và yêu cầu nhận bằng hiện vật với diện tích mỗi kỷ phần là 1.277,5m²; Đồng ý việc ông N yêu cầu chia tài sản chung và nhận diện tích đất 8.942,5m² trên tổng diện tích 17.885m2, vì đây là khối tài sản chung của ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4; đối với cây trồng, kiến trúc trên phần đất của ai được chia, người đó nhận, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Chị Noèng T1 và cháu Trần Kỳ Q (có chị Noèng T1 làm đại diện) đồng trình bày: Bà đồng ý để phần thừa kế của bà trong kỷ phần thừa kế của anh Trần Ký E cho con bà là Trần Kỳ N2 quản lý và sử dụng. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
- Cháu Trần Kỳ N2 trình bày: Yêu cầu được hưởng phần thừa kế của cha là phần diện tích đất 1.277,5m²/8.942,5m² sau khi phân chia; Ngoài ra yêu cầu chia thêm phần đất diện tích 8.000m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự, nhưng không thành.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:
- Về tố tụng:
+ Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng quy định.
+ Hội đồng xét xử, Thư ký: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án, Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.
+ Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Vợ chồng ông N và bà N4 có nhận chuyển nhượng từ bà Lâm Thị L (em ruột bà N4) phần diện tích đất 17.885m², thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 52, mục đích sử dụng đất: đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đến ngày 19/8/2046, tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/10/2020 cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4, nên căn cứ theo Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc giải quyết tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp một bên chết “Khi có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi”; Nên việc ông N yêu cầu chia tài sản chung đối với diện tích 17.885m² và nhận 8.942,5m² là có cơ sở chấp nhận.
Bà N4 và ông N có 06 người con, bà N4 chết không để lại di chúc, nên phần di sản của bà N4 để lại là 8.942,5m², nên việc ông N yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 8.942,5m² làm 07 phần bằng nhau, trong đó mỗi kỷ phần diện tích 1.277,5m² là có cơ sở chấp nhận.
Đối với kỷ phần mà anh Trần Ký E được nhận, do anh K Em chết, nên hàng thừa kế thứ nhất của anh K Em gồm ông N, chị T1, cháu Kỳ N2 và Kỳ Q được nhận; Tuy nhiên, ông N, chị T1 và Kỳ Q thống nhất để cho Kỳ N2 được nhận phần di sản của anh Ký E, nhận thấy đây là sự tự định đoạt của đương sự, không trái quy định pháp luật nên chấp nhận.
Các đương sự thống nhất cây trồng và vật kiến trúc trên đất của người nào được chia, thì người đó có quyền sở hữu, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Việc chị N1 cho rằng nguồn gốc phần đất diện tích 17.885m² là do bà N4 một mình đứng tên và mua lại của bà L vào năm 2006, trong đó có tiền của bà, yêu cầu chia 17.885m² thành 07 phần bằng nhau, nhưng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu chia 01 phần trong tổng diện tích hơn 8.000m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng chị N1 không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh là di sản của bà N4, ngoài ra, chị N1 không có đơn yêu cầu phản tố nên không xem xét giải quyết; Dành quyền khởi kiện cho chị N1 trong một vụ án khác.
Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 33, Điều 66 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 609, 610, 622, 649, 650, 651, 652 Bộ luật dân sự năm 2015, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N, xác định diện tích 17.885m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05749 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/10/2020 là tài sản chung của vợ chồng, chia cho ông N diện tích 8.942,5m² và vật kiến trúc, cây trồng trên đất, theo bản trích đo địa chính.
Xác định diện tích 8.942,5m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05749 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/10/2020 là di sản do bà Lâm Thị N4 chết để lại; nên chia theo pháp luật làm 07 kỷ phần cho hàng thừa kế thứ nhất của bà N4 gồm: Trần Văn N, Trần Thị N1, Trần Ký E, Trần Ký T2, Trần Ký N3, Trần Ký S và Trần Thị Ký Út T, mỗi người được hưởng một phần diện tích đất 1.277,5m² và cây trồng, kiến trúc có trên đất được chia; Trần Kỳ N2 được quyền quản lý sử dụng 1.277,5m² do Trần Ký E chết để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa ông Trần Văn N và bà Trần Thị N1 là tranh chấp chia tài sản chung, chia di sản thừa kế; chị N1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019;
[1.2] Hàng thừa kế: Ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 có 06 người con: chị Trần Thị N1, chị Trần Ký T2, chị Trần Ký N3, chị Trần Ký S, chị Trần Thị Ký Út T, Trần Ký E (chết ngày 06/12/2023), nên căn cứ theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất của bà Lâm Thị N4 gồm: Ông Trần Văn N, chị Trần Thị N1, chị Trần Ký T2, chị Trần Ký N3, chị Trần Ký S, chị Trần Thị Ký Út T, Trần Ký E (chết ngày 06/12/2023).
[1.3] Thời điểm mở thừa kế và thời hiệu thừa kế: Bà Trần Thị N5 chết chết ngày 06/3/2023, nên thời điểm mở thừa kế là ngày 06/3/2023; Thời hiệu thừa kế đối với bất động sản là 30 năm, ngày 20/7/2023 ông Trần Văn N khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, chia di sản thừa kế nên vẫn còn thời hiệu thừa kế; Theo quy định tại khoản 1 Điều 611, khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Phần đất diện tích 17.885m² thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 52, đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 01/10/2020 cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ bà Lâm Thị L đã được các đương sự thống nhất và sự thừa nhận từ bà Lâm Thị L (theo biên bản xác minh ngày 18/12/2023); Căn cứ theo biên bản xác minh ý kiến của bà Lâm Thị L, bà L cho rằng trước đây bà có phần đất diện tích 16.684m², đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; do bà bị bệnh, không có tiền điều trị, nên bà có chuyển nhượng phần đất trên cho chị ruột bà là Lâm Thị N4 02 lần với giá 20 chỉ vàng 24kara, lần đầu do bà Lâm Thị N4 trả 10 chỉ, lần hai do ông Trần Văn N trả 10 chỉ; khi nhận đủ vàng bà đã đưa toàn bộ giấy tờ cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 làm thủ tục sang tên;
Đến ngày 06/4/2012, bà Lâm Thị N4 và ông Trần Văn N được Ủy ban nhân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đã nhận chuyển nhượng trên với diện tích 16.684m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01458; Đến ngày 05/5/2020, bà N4 và ông N đã làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên, với diện tích sau khi cấp đổi là 17.885m², thửa đất 66, tờ bản đồ số 52, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN:CS05749, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/10/2020 cho bà Lâm Thị N4 và ông Trần Văn N.
Việc chị Trần Thị N1 cho rằng phần đất diện tích 17.885m² là do chị mua của bà Lâm Thị L vào năm 2006 với giá 02 cây vàng 24kara; khi mua bán, chị làm sống tại Campuchia, ông Trần Văn N lên gặp chị lấy vàng trả cho bà L; Đến năm 2012, bè Lẹ thiếu tiền chị 10.0000.000 đồng, bà L kêu chị bán thêm đất với số tiền 115.000.000 đồng, do bà Lâm Thị N4 trả tiền có cấn trừ 10.000.000 đồng tiền bà L thiếu nợ chị, ông Trần Văn N bỏ ra 50.000.000 đồng, của Trần Ký E 01 cây vàng để bù vào mua toàn bộ số đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lâm Thị N4 đứng tên; Như vậy theo lời trình bày của chị thì tổng số tiền vàng để mua phần đất trên là 175.000.000 đồng và 01 cây vàng 24kara.
Trong khi đó bà L cho rằng chỉ bán cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 làm 02 lần với giá 02 cây vàng 24kara, đưa 02 lần, mỗi lần 01 cây vàng 24 kara, lần đầu do bà N4 trả vàng mua đất, lần sau ông N trả vàng mua đất, thời điểm ông N, bà N4 nhận chuyển nhượng đất, chị N1 sống tại Campuchia; Nên chị N1 không có chứng cứ để chứng minh nguồn tiền, vàng trả tiền đất nhận chuyển nhượng 17.885m² có là của chị, cũng như là tài sản riêng của bà Lâm Thị N4, nên việc chị Trần Thị N1 yêu cầu chia diện tích 17.885m² làm 07 phần bằng nhau và nhận 01 phần tương ứng với diện tích 2.555m² là không có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì: Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Và Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì: “Khi một bên vợ, chồng chết; khi có yêu cầu chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi”
Từ những căn cứ đó, xác định phần đất diện tích 17.885m², thửa đất 66, tờ bản đồ số 52, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN:CS05749, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 01/10/2020 cho bà Lâm Thị N4 và ông Trần Văn N; là tài sản chung của ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4; Nên tài sản riêng của ông Trần Văn N là 8.942,5m²;
[2.2] Bà Lâm Thị N4 chết, không để lại di chúc, nên phần di sản thừa kế của bà Lâm Thị N4 là phần đất diện tích 8.942,5m2 do ông Trần Văn N là người quản lý di sản, hàng thừa kế thứ nhất của bà Lâm Thị N4 gồm 07 người, nên căn cứ theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, nên ông Trần Văn N yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích phần đất diện tích 8.942,5m² của bà Lâm Thị N4 làm 07 phần, tương ứng mỗi phần diện tích 1.277,5m² và yêu cầu nhận 01 phần là có cở sở chấp nhận.
Đối với phần thừa kế của anh Trần Ký E, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Ký E có lời khai thể hiện đồng ý nhận kỷ phần thừa kế với diện tích 1.277,5m²; Tuy nhiên anh Trần Ký E chết vào ngày 06/12/2023, như vậy những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của anh Trần Ký E là hàng thừa kế thứ nhất gồm: ông Trần Văn N, chị Noèng T1, cháu Trần Kỳ N2 và Trần Kỳ Q; ông N, chị T1 và cháu Q đồng thống nhất để kỷ phần thừa kế của mình trong kỷ phần của anh Trần Ký E (diện tích 1.277,5m²) cho cháu Trần Kỳ N2 hưởng và sử dụng, sự tự nguyện này là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Khi bà Lâm Thị N4 chết, bà N4 không để lại nghĩa vụ tài sản, ông Trần Văn N là người quản lý di sản, ông N không yêu cầu những người thừa kế thanh toán chi phí bảo quản di sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, trên phần đất có: 01 căn nhà diện tích 26,6m², kết cấu nềm xi măng, nóc lợp T3, vách tường kiên cố; 105 cây xoài Đài Loan được trồng 07 năm tuổi, 100 gốc bạch đàn đã cắt lấy thân và lên nhiều chồi con, 04 cây dừa được trồng 06 năm tuổi, 20 bụi tầm vong mỗi bụi khoảng 30 cây, 10 cây tràm bông vàng có đường kính từ 80cm đến 150cm; ông Trần Văn N và các đồng thừa kế có ý kiến không yêu cầu Tòa án xem xét phân chia các cây trồng, cũng như nhà trên đất, ai nhận được vị trí đất nào được hưởng cây trồng, nhà cửa trên vị trí đất được phân chia, phần diện tích đất 17.885m² là loại đất trồng cây lâu năm, các đương sự không có yêu cầu xem xét giải quyết nhu cầu về lối đi chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Hội đồng xét xử sẽ xem xét nhu cầu sử dụng đất, ý kiến của người đang trực tiếp quản lý gìn giữ di sản là ông Trần Văn N, ông N yêu cầu nhận phần đất có mồ mã để dành hương quả, thờ cúng, cũng như các mối quan hệ hòa thuận giữa các thành viên trong gia đình để phân chia thứ tự vị trí đất cho phù hợp để đảm bảo cho các đồng thừa kế thực hiện quyền của người sử dụng đất.
[2.3] Tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/02/2024, chị Trần Thị N1 và cháu Trần Kỳ N2 có yêu cầu chia thêm phần đất diện tích không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 8.000m²; Xét yêu cầu của chị N1 là yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của cháu Trần Kỳ N2 là yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Căn cứ theo quy định tại Điều 200, Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2019, thì bị đơn có chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập giải quyết trong cùng một vụ án khi làm cho việc giải quyết chính xác và nhanh hơn, đối với diện tích khoảng 8.000m² theo như trình bày của chị N1, cháu N2 hiện vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó chưa có cơ sở xác định đây là di sản thừa kế của bà Lâm Thị N4;
Nên, chị Trần Thị N1 và cháu Trần Kỳ N2 đưa ra yêu cầu tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tại phiên tòa hôm nay không được xem xét giải quyết trong cùng một vụ án; chị Trần Thị N1 và cháu Trần Kỳ N2 có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.
[2.4] Giá trị tài sản tranh chấp: Trong quá trình giải quyết vụ án, do các đương sự không đưa ra giá tài sản đang tranh chấp, cũng như không thỏa thuận được về giá tài sản, ông Trần Văn N có đơn yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá tài sản đang tranh chấp là phù hợp với quy định tại Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019; Nên giá trị đất được Hội đồng định giá xác định có giá 36.600 đồng/m², các đương sự không khiếu nại về giá cũng như yêu cầu định giá lại, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào giá đã định để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2.5] Chi phí tố tụng: Ông Trần Văn N đã nộp tạm ứng: tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: 2.400.000 đồng, công đo đạc: 6.800.000 đồng (theo Hợp đồng dịch vụ đo vẽ hiện trạng Nhà – Đất số 242/HDDV-ĐV/2023 giữa chị Trần Thị Ký Út T4 – người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn N và Chi nhánh Công ty TNHH Đ); Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì các đồng thừa kế cùng chịu toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản; Do nguyên đơn ông Trần Văn N đã tạm ứng, nên chị Trần Thị N1, chị Trần Ký T2, chị Trần Ký N3, chị Trần Ký S, chị Trần Thị Ký Út T, cháu Trần Kỳ N2 phải hoàn lại cho ông Trần Văn N, mỗi người 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
[2.6] Án phí: Ông Trần Văn N là người cao tuổi theo Điều 2 Luật người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí Tòa án, nên căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ông Trần Văn N được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm; Đối với những người thừa kế chị Trần Thị N1, chị Trần Ký T2, chị Trần Ký N3, chị Trần Ký S, chị Trần Thị Ký Út T và Trần Kỳ N2, mỗi người phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q1, là 5% trên giá trị tài sản là đất được chia 36.600 đồng/m² x 1.277,5m² = 2.337.525 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 33, Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651 và Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 74, Điều 104, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019;
Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn N về yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của bà Lâm Thị N4 theo pháp luật.
1. Xác định tài sản chung của ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 là thửa đất số 66, tờ bản đồ số 52, diện tích 17.885m², tọa lạc tại xã A, huyện (nay thị xã ) T, tỉnh An Giang, thửa đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05749 ngày 01/10/2020 cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4 theo các điểm 38, 42, 43, 32, 44, 30, 24, 23, 22, 45, 46, 47, 48, 49, 10, 50, 51, 52, 5, 53, 54, 40, 55, 56 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
Tài sản chung được chia của ông Trần Văn N là ½ diện tích đất 17.885m² = 8.942,5m² đất, gắn liền với vật kiến trúc và cây trồng trên đất, thuộc thửa Tạm 1 theo các điểm 38, 42, 43, 32, 44, 30, 24, 23, 22, 45, 46, 57, 69, 53, 54, 40, 55, 56 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
2. Xác định di sản thừa kế của bà Lâm Thị N4 là ½ diện tích đất 17.885m² = 8.942,5m², gắn liền với cây trồng trên đất thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại xã A, huyện (nay thị xã ) T, tỉnh An Giang, do Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS05749 ngày 01/10/2020 cho ông Trần Văn N và bà Lâm Thị N4;
Việc phân chia di sản thừa kế của bà Lâm Thị N4 như sau:
- Chia cho ông Trần Văn N là 1/7 diện tích đất 8.942,5m² = 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 2 theo các điểm 57, 58, 68, 69 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
- Chia cho chị Trần Thị K1 Út Tiên là 1/7 diện tích đất 8.942,5m² = 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 3 theo các điểm 58, 59, 67, 68 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
- Chia cho chị Trần Ký S là 1/7 diện tích đất 8.942,5m² = 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 4 theo các điểm 59, 60, 5, 67 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
- Chia cho chị Trần Ký N3 là 1/7 diện tích đất 8.942,5m²= 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 5 theo các điểm 60, 61, 66, 50, 51, 52, 5 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
- Chia cho chị Trần Ký T2 là 1/7 diện tích đất 8.942,5m² = 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 6 theo các điểm 61, 62, 65, 66 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
- Chia cho cháu Trần Kỳ N2 là 1/7 diện tích đất 8.942,5m² = 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 7 theo các điểm 62, 63, 64, 65 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
- Chia cho chị Trần Thị N1 là 1/7 diện tích đất 8.942,5m² = 1.277,5m², gắn liền cây trồng trên đất thuộc thửa tạm 8 theo các điểm 61, 62, 65, 66 của Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Đính kèm theo bản án là Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ lập ngày 12/3/2024.
Về chi phí tố tụng:
- Chị Trần Thị N1 phải hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
- Chị Trần Ký T2 phải hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
- Chị Trần Ký N3 phải hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
- Chị Trần Ký S phải hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
- Chị Trần Thị K1 Út Tiên phải hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
- Cháu Trần Kỳ N2 phải hoàn trả cho ông Trần Văn N số tiền 1.314.285 (một triệu, ba trăm mười bốn ngàn, hai trăm tám mươi lăm đồng).
Về án phí:
- Ông Trần Văn N được miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Trần Thị N1, chị Trần Ký T2, chị Trần Ký N3, chị Trần Ký S, chị Trần Thị Ký Út T và cháu Trần Kỳ N2, mỗi người phải nộp 2.337.525 (hai triệu, ba trăm ba mươi bảy ngàn, năm trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia tài sản chung, chia di sản thừa kế
- Số bản án: 20/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung, chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn N yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị N2
