Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/ DS - ST

Ngày: 29 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam và bà Phạm Thị Bích Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Lan– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức M– Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2022/DSST ngày 05/7/2022 về “V/v Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST - DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1962, có mặt

ĐKHKTT: Số nhà 52, tổ 13, phường Thắng Lợi, Tp Sông Công, Thái Nguyên

Tạm trú: Ngõ 25 TDP Xuân Miếu 2, phường Cải Đan, Tp Sông Công, Thái Nguyên

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Mai Xuân H, sinh năm 1949; Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số G, T, Quận H, Hà Nội; có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Kim T1, sinh năm 1964, có mặt

Địa chỉ: Tổ B, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Như T2, sinh năm 1962, có mặt
    Địa chỉ: Tổ 2, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
  2. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1972, vắng mặt
    Địa chỉ: Tổ 13, phường Thắng Lợi, TP Sông Công, Thái Nguyên
  3. Anh Vũ Minh H2, sinh năm 1994, vắng mặt
    Địa chỉ: Tổ 13, phường Thắng Lợi, TP Sông Công, Thái Nguyên
  4. Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1999, vắng mặt
    Địa chỉ: TDP Lai Sơn, phường Đồng Tâm, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
    Chỗ ở: Tổ 13, phường Thắng Lợi, TP Sông Công, Thái Nguyên
  5. Bà Nguyễn Thị Thu T3, sinh năm 1957 và ông Trần Xuân T4, sinh năm 1952; vắng mặt.
    Đều trú tại: TDP Ư, phường T, thành phố S, Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Ý kiến của nguyên đơn ông Vũ Xuân T trình bày:

Về nguồn gốc đất: Ngày 06/02/1996 ông Vũ Xuân T và bà Lê Thị H1 có nhận chuyển nhượng thửa đất số 172, tờ bản đồ 62-IV có diện tích 1000m2 (trong đó 150 m2 đất ở, 850 m2 đất trồng cây lâu năm) của bà Nguyễn Thị Thu T3; đất có địa chỉ tại tổ A, phường T, Tp S, Thái Nguyên, đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 223812 do UBND thị xã S cấp ngày 14/6/1991 mang tên Nguyễn Thị Thu T3. Giữa ông T và bà T3 có làm viết tay giấy chuyển nhượng nhà ở- hoa màu- quyền sử dụng đất. Hiện nay vẫn chưa sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 18/7/2005 vợ chồng ông Vũ Xuân T và bà Lê Thị H1 ly hôn tại Quyết định thuận tình ly hôn số 11/QĐTTLH của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố S), Thái Nguyên. Về tài sản chung các bên thỏa thuận như sau: ông T được quyền sở hữu đất đai là diện tích 1.000m2, nhà xây cấp IV lợp Proximăng gồm 03 gian; bếp; công trình phụ, hoa màu trên đất và có trách nhiệm trích chia cho chị H1 tài sản bằng tiền mặt 50.000.000 đồng. Diện tích 1.000m2 đất nói trên thuộc thửa đất số 172, tờ bản đồ 62-IV đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Thu T3 mà ông đã nhận chuyển nhượng năm 1996.

Tháng 4/2007 do nạn trộm cắp nhiều nên ông T phải xây tường rào bảo vệ, phía Đông giáp nhà ông T5, ông C (bà V), hiện nay ông bà C– V đã bán cho ông T6, phía nam giáp đất ông N (bà H3); phía tây tiếp giáp nhà ông H4 (bà H1); phía Bắc tiếp giáp nhà bà T1 (ông T2), nhà ông C, bà V (nay là ông T6). Khi ông xây tường rào ông T2 bà T1 đi làm ăn ở xa không có ở nhà, chỉ có ông K là bố đẻ bà T1 ở trông nom quản lý. Khi xây ông có báo với ông K và ông K có ra tận nơi chỉ ranh giới cho ông xây và nói đã thông báo với con gái là bà T1 biết việc đó. Khi gia đình ông xây tường rào không có tranh chấp với ai. Ngày 19/4/2007 khi ông xây đến đoạn tường giáp nhà ông C, ông K có ra nói với ông xây như vậy là bịt đường đi vào nhà bà T1 con gái ông K và ông K có đơn báo chính quyền địa phương giải quyết.

Phần tiếp giáp với nhà bà T1 và ông T2 đã có tường rào dài 27,2m, rộng 20 cm (tường gạch ba vanh 10cm, trụ xây gạch đỏ 10 cm). Cùng năm 2007 giữa ông và bà T1, ông T2 phát sinh tranh chấp đường đi chung khi ông K, bà T1 cho rằng ông đã lấn chiếm đường đi chung. Tranh chấp này đã được giải quyết xong bằng bản án dân sự phúc thẩm số 16/2020/DS-PT ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Trong đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim T1 về việc buộc ông phải trả lại đường đi chung và tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trả lại đường đi chung (công trình xây dựng ở đây chính là phần tường rào ông đã xây dựng có chiều dài 02m). Như vậy đối với ranh giới quyền sử dụng đất tương ứng với tường rào dài 27,2m2 do ông T xây dựng năm 2007 giữa thửa đất 172, tờ bản đồ 62-IV và thửa đất không có số, tờ bản đồ 62-IV của gia đình bà T1, ông T2 đã có 02 m được giải quyết theo bản án dân sự phúc thẩm số 16/2020/DS-PT ngày 19/5/2020.

Thời điểm 2007 khi xây tường rào, gia đình ông K, bà T1, ông T2 chỉ tranh chấp về đường đi chung (đã được giải quyết xong bằng bản án phúc thẩm số 16/2020/DS-PT ngày 19/5/2020) không có tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất giữa hai hộ.

Năm 2014 ông Tính glại nhà đất cho con trai là Vũ Minh H2 quản lý, sử dụng, bà H1 cũng theo anh H2 về ở trên nhà đất của ông T.

Hiện nay ông và gia đình bà T1, ông T2 tiếp tục tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với 25,2m chiều dài của tường rào, chiều rộng 20cm (theo biên bản làm việc ngày 02/11/2021 tại UBND phường T về kiểm tra hiện trạng, ranh giới giữa 02 hộ). Năm 2020 ông làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T1 không đồng ý ký giáp ranh nên việc sang tên phải dừng lại.

Sau khi được Tòa án công khai bản trích đo hiện trạng sử dụng đất của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số F, ông T xác định trong tổng số 27,9m chiều dài hiện trạng có 02m đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công và Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2020/DS-PT ngày 19/5/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp đường đi chung. Do đó diện tích tranh chấp hiện nay là 5,18m² = 25,9m chiều dài x 0,2m chiều rộng bao gồm tường và trụ tường (bổ trụ về phía đất nhà ông).

Nay ông đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất trên thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình ông.

*Ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Kim T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Như T2 trình bày:

Gia đình bà T1 có thửa đất diện tích 1.000m2 (trong đó có 400 m2 đất ở, 600 m2 đất cây lâu năm) tại tờ bản đồ 62-IV (thửa đất không có số), thuộc tổ A, phường T, Tp S, thái N1 đã được UBND thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A230594 ngày 11/02/1991 mang tên Nguyễn Kim T1. Nguồn gốc do bố mẹ đẻ bà T1 là cụ Nguyễn Văn K1 và cụ Dương Thị T7 khai hoang, cho bà T1 quản lý sử dụng ổn định từ năm 1982. Ngày 01/6/1996 bà T1 đi làm ăn xa, để lại nhà đất cho bố mẹ trông nom.

Tiếp giáp phía Nam thửa đất của gia đình bà T1 là đất của bà Nguyễn Thu T3 (thửa 172, tờ bản đồ 62-IV). Ranh giới giữa hai thửa đất là hàng rào cây cúc tần, bên trong về phía đất nhà bà T1 có trồng một số cây ăn quả (mít, khế, bưởi, ổi). Việc mua bán chuyển nhượng giữa bà T3 và ông T bà T1 không được biết. Đến năm 2000 bà T1 mới biết việc ông T đã mua lại đất của bà T3.

Năm 2007 ông T xây bờ rào, có thông báo với bố đẻ bà T1 (cụ K1) là người đang quản lý trông nom thửa đất chứ không thông báo cho bà T1 biết. Khi cụ K1 ra xem thì ông T đã chặt bỏ toàn bộ hàng rào cúc tần và cây ăn quả do gia đình bà T1 đã trồng. Cụ K1 đã yêu cầu ông T tạm dừng việc xây tường rào nhưng ông T không đồng ý. Cụ K1 đã làm đơn yêu cầu UBND phường T xuống làm việc và UBND phường đã lập biên bản ngày 20/4/2007, yêu cầu trong thời gian chờ giải quyết tranh chấp ông T dừng việc thi công tường rào. Nhưng ông T đã không ký biên bản và tiếp tục thi công xây tường rào.

Ngày 13/6/2023 bà T1 đã có đơn phản tố đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T
  2. Buộc ông T phá bỏ toàn bộ hàng rào lấn chiếm, chiếm đoạt trái phép (kể cả phần 2,5m trên phần đường đi chung) trả lại nguyên trạng ranh giới cũ đã được xác lập giữa gia đình bà T1 và gia đình bà T3 trước khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991.
  3. Đền bù cho gia đình bà toàn bộ cây cối lâu năm do gia đình bà trồng mà ông T đã chặt phá khi xây dựng tường rào.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà T1, ông T2 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại nên rút yêu cầu đối với ông T về việc bồi thường thiệt hại cây cối.

Sau khi được Tòa án công khai bản trích đo hiện trạng sử dụng đất của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6, bà T1, ông T2 xác định diện tích tranh chấp là 5,58m² = 27,9m chiều dài hiện trạng x 0,2m chiều rộng bao gồm tường và trụ tường (bổ trụ về phía đất nhà ông T).

Tại phiên tòa bà T1, ông T2 xác định đoạn tường rào dài 25,4m ông T xây dựng 2007 và đoạn dài 2,5m xây mới năm 2015 không nằm trên diện tích đường đi có tranh chấp đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 26/8/2019 và Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2020/DS-PT ngày 19/5/2020.

Bà T1, ông T2 đề nghị Tòa án giải quyết công nhận toàn bộ tường rào dài 27,9m ông T xây dựng năm 2007 nằm trên đất của gia đình ông, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Buộc ông T phải tháo dỡ tường rào xây trên đất lấn chiếm.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T3 trình bày:

Năm 1996 bà bán thửa đất số 172, tờ bản đồ 62 - IV cho ông Vũ Xuân T. Khi đó ranh giới giữa thửa 172 và thửa đất nhà bà T1 là hàng cúc tần và cây mít, hàng tre. Sau đó về bà đi nơi khác sinh sống nên không biết ông T xây dựng tường rào giáp ranh với bà T1 năm nào và có tranh chấp với ai không tại thời điểm đó. Việc tranh chấp đất giữa hai gia đình bà không được biết. Nay đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với đất đã bán cho ông T bà không có yêu cầu đề nghị gì.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 trình bày:

Bà H1 hiện đang sinh sống tại ngôi nhà trên thửa đất số 172, tờ bản đồ 62 – IV từ năm 1995- 1996, ngôi nhà do bà H1 và ông T xây dựng. Năm 2007 ông T tường rào xây dựng tường rào giáp ranh với đất bà T1. Bà H1 và ông T đã ly hôn vào năm 2005. Bà H1 có đi ra các nơi khác ở một thời gian. Sau đó bà H1 và con trai là Vũ Minh H2 đã về sinh sống tại ngôi nhà này từ năm 2013. Những việc phát sinh tranh chấp giữa ông T vào bà T1 bà không được biết, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Minh H2 trình bày

Năm 2005, bố mẹ anh là ông T và bà H1 ly hôn. Anh theo mẹ là bà H1 sinh sống ở nơi khác. Đến năm 2013, anh chuyển về ở trên nhà đất tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 62-IV.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Ngọc L trình bày

Chị L là vợ của anh Vũ Minh H2. Tháng 11 năm 2023, chị L kết hôn với anh H2 và chuyển về sống cùng anh H2 trên thửa đất. Tranh chấp giữa bố chồng chị ông Vũ Xuân T và gia đình bà T1 chị L hoàn toàn không biết.

* Quá trình xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án:

- Về các hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Tòa án đã tiến hành thu thập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 223812 do UBND thị xã S cấp ngày 14/6/1991 mang tên Nguyễn Thị Thu T3 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A230594 ngày 11/02/1991 mang tên Nguyễn Kim T1.

- Về việc cấp trích lục thửa đất: Công văn trả lời của Chi nhánh văn phòng Đ, thành phố S xác định:

Việc cung cấp bản trích lục thửa đất của hai hộ Nguyễn Kim T1 và hộ Nguyễn Thị Thu T3 theo bản đồ địa chính tại thời điểm kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà T3 và hộ bà T1 năm 1991, hệ thống bản đồ địa chính đo đạc năm 1986 - 1987 không thể hiện chi tiết số thửa đất của hai hộ đang sử dụng, do bản đồ địa chính đo bao cả khu vực này là khu gia đình trường C1 (khu 3,5 ha). Khi các hộ kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai thửa đất này cũng chưa được cập nhật chỉnh lý trên bản đồ địa chính. Trên bản đồ địa chính được chỉnh lý năm 1992, cũng không cập nhật chỉnh lý hoàn thiện, do đó Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ không có cơ sở để trích lục hai thửa đất theo bản đồ địa chính vào thời gian cấp quyền sử dụng đất của hộ bà T3 và bà T1 theo yêu cầu của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.

- Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc bằng máy đối với cả 02 thửa đất và khu vực đất có tranh chấp.

Về giá đất ở tại vị trí tranh chấp là 1.800.000 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm có giá 70.000 đồng/m2.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, vụ án được đưa ra xét xử tại phiên tòa công khai.

Tại phiên tòa, nguyên đơn tranh luận xác định đây là tranh chấp ranh giới mới phát sinh, thời điểm ông T xây tường rào 2007 các bên không có tranh chấp gì, chỉ có tranh chấp về 2,5m đường đi. Tại đơn đề nghị UBND phường, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như đơn khởi kiện tại Tòa án của bà Nguyễn Kim T1 đều giải quyết tranh chấp đường đi, không có tranh chấp về ranh giới. Bà T1 sau các lần hòa giải ở phường và Tòa án đưa ra kết quả khác nhau về diện tích đất tranh chấp. Do đó giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định diện tích đất 5,18m2 đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 172, tờ bản đồ 62-IV được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 223812 do UBND thị xã S cấp ngày 14/6/1991 mang tên Nguyễn Thị Thu T3, do ông T đã nhận chuyển nhượng ngày 06/02/1996. Ông T yêu cầu công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của gia đình ông.

Bà T1 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện. Bà T1, ông T2 xác định trước khi ông T xây dựng tường rào không thông báo cho gia đình bà biết. Giữa đất của gia đình bà và bà T3 được xác định bằng hàng rào cây cúc tần, hiện đã bị ông T chặt phá không còn. Yêu cầu công nhận diện tích 5,58m2 đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A230594 ngày 11/02/1991 mang tên Nguyễn Kim T1.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại phiên tòa sơ thẩm; các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Xuân T đối với bà Nguyễn Kim T1 về tranh chấp quyền sử dụng đất. Do các cơ quan Nhà nước không cung cấp được các tài liệu liên quan đến bản đồ địa chính của thửa 172 của ông T và thửa đất không số của bà T1. Năm 2007 khi phát sinh tranh chấp chính quyền địa phương đã đề nghị ông T tháo dỡ tường rào. Bà T3 xác định ranh giới giữa đất bà T3 và đất bà T1 là hàng rào cúc tần nhưng hiện không còn. Các bên hiện nay đều sử dụng tăng diện tích so với Giấy chứng nhận được cấp. Bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên không chấp nhận yêu cầu của bà T1 về việc tranh chấp lối đi chung nhưng cũng không công nhận diện tích đường đi này nằm trên đất của ông T. Ngoài ra khi ông T xây tường rào năm 2007 không có thỏa thuận giữa hai hộ về việc xây dựng tường rào.

Đồng thời không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Kim T1 do bà đang có đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Thái Nguyên, hiện nay chưa có kết quả giải quyết.

Chi phí tố tụng nguyên đơn phải chịu do yêu cầu không được chấp nhận. Nguyên đơn, bị đơn là người cao tuổi được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình mình. Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất”. Tài sản tranh chấp là bất động sản có địa chỉ tại thành phố S. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1, anh Vũ Minh H2, chị Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị Thu T3 và ông Trần Xuân T4 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H1, anh Vũ Minh H2, chị Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị Thu T3 và ông Trần Xuân T4.

[2] Về nội dung vụ án:

* Nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất số 172 tờ bản đồ số 62 – IV: Khoảng năm 1982, vợ chồng ông Ngô Trung T8 được Trường M1 Địa Chất thanh lý cho 01 căn nhà và được phường T (thị trấn M cũ) cấp đất. Đến năm 1988, do không còn nhu cầu sử dụng, vợ chồng ông T8 đã chuyển nhượng lại nhà và đất cho bà T3. Hai bên có viết giấy xin nhượng bán nhà và hoa màu, thổ cư, diện tích đất chuyển nhượng theo sơ đồ trên giấy chuyển nhượng ghi là 832m2, có xác nhận của UBND phường T ngày 30/12/1988.

Ngày 11/5/1989 bà T3 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất, đến ngày 14/6/1991, bà T3 đã được Ủy ban nhân dân thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số A 223812 do UBND thị xã S cấp ngày 14/6/1991 mang tên Nguyễn Thị Thu T3 đối với thửa đất số 172 tờ bản đồ số 62 – IV, diện tích 1.000m2 (150m2 đất T, 850m2 đất CLN) mang tên Nguyễn Thị Thu T3.

Ngày 06/02/1996 ông Vũ Xuân T và bà Lê Thị H1 có nhận chuyển nhượng thửa đất số 172, tờ bản đồ 62-IV có diện tích 1000m2 (trong đó 150 m2 đất ở, 850 m2 đất trồng cây lâu năm) của bà Nguyễn Thị Thu T3; đất có địa chỉ tại tổ A, phường T, Tp S, Thái Nguyên. Giữa ông T và bà T3 có làm viết tay giấy chuyển nhượng nhà ở - hoa màu - quyền sử dụng đất. Hiện nay vẫn chưa sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 18/7/2005 vợ chồng ông Vũ Xuân T và bà Lê Thị H1 ly hôn tại Quyết định thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố S), Thái Nguyên. Thửa đất số 172, tờ bản đồ 62-IV thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Vũ Xuân T, hiện nay ông T để cho bà H1 và vợ chồng con trai là anh H2, chị L quản lý sử dụng.

* Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Kim T1:

Nguồn gốc thửa đất do bố mẹ đẻ bà T1 là cụ Nguyễn Văn K1 và cụ Dương Thị T7 khai hoang, cho bà T1 quản lý sử dụng ổn định từ năm 1982. Cùng thời gian bà T3 kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 1989 bà Nguyễn Kim T1 kê khai và đến ngày 11/02/1991 đã được Ủy ban nhân dân thị xã S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng 1.000m2 (400m2T, 600m2CLN) tại tờ bản đồ số 62 – IV (không ghi số thửa).

Năm 2007 bà T1 khởi kiện ông T về tranh chấp lối đi chung với chiều rộng 2,5m. Tranh chấp đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công và Bản án dân sự phúc thẩm số 16/2020/DS-PT ngày 19/5/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên.

Thời điểm phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất vào tháng 6/2020 khi ông T đề nghị Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đo đạc để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất giữa bà T3 và ông T. Trong quá trình đo đạc ranh giới sử dụng đất của hộ ông Vũ Xuân T, bà T1 là chủ sử dụng đất giáp ranh không ký xác nhận ranh giới. Trong thời gian niêm yết công khai ranh giới, hiện trạng sử dụng đất của hộ ông Vũ Xuân T, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai nhận được đơn đề nghị của bà T1 đề nghị giải quyết về ranh giới sử dụng đất với hộ ông Vũ Xuân T.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu công nhận diện tích đất tranh chấp 5,18m2 (là đoạn nối các điểm D,2,3,4,A,B,C,D trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của gia đình ông.

Bà T1 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện. Ngày 13/6/2023 bà T1 có đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết 0,4m2 đất (là đoạn nối các điểm 1,D,C,E,1 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6), đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất 5,58m2 (là đoạn nối các điểm 1,2,3,4,A,B,C,E,1 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Buộc ông T tháo dỡ tường rào đã xây lấn chiếm trên đất của gia đình bà.

[3] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: ông T đề nghị Tòa án giải quyết diện tích tranh chấp là 5,18m² = 25,9m chiều dài x 0,2m chiều rộng bao gồm tường và trụ tường (bổ trụ về phía đất nhà ông). Vì trong tổng số 27,9m chiều dài hiện trạng theo ông T có 02m đã được giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công và Bản án phúc thẩm số 16 ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp đường đi chung.

Ngày 13/6/2023 bà T1 có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết diện tích đất trên toàn bộ 27,9m chiều dài bức tường do ông T đã xây dựng, cụ thể là 5,58m². Buộc ông T tháo dỡ tường rào đã xây lấn chiếm trên đất của gia đình bà.

Hội đồng xét xử xét thấy Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 26/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công và bản án dân sự phúc thẩm số 16 ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên giải quyết tranh chấp đường đi chung. Trong đó bản án sơ thẩm quyết định: Buộc ông T tháo dỡ đoạn tường rào xây giáp với đất của bà T1 là 02m. Bản án phúc thẩm quyết định: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim T1 về việc buộc ông Vũ Xuân T phải trả lại đường đi chung và tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trả lại đường đi chung. Đây là một quan hệ tranh chấp khác với vụ án hiện nay ông T khởi kiện về tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất (đề nghị xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của ai).

Do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét yêu cầu phản tố của bà T1 trong vụ án, giải quyết trong phạm vi 5,58m² = 27,9m chiều dài tường rào hiện trạng x 0,2m chiều rộng bao gồm tường và trụ tường (bổ trụ về phía đất nhà ông T); Buộc ông T tháo dỡ tường rào đã xây lấn chiếm trên đất của gia đình bà.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Xuân T

Theo các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Tháng 4/2007 ông T xây tường rào phía Bắc tiếp giáp nhà bà T1 (ông T2). Khi ông T xây tường rào ông T2 bà T1 đi làm ăn ở xa không có ở nhà, chỉ có ông K1 là bố đẻ bà T1 ở trông nom quản lý. Khi xây ông có thông báo với ông K1.

Ngày 19/4/2007 ông Nguyễn Văn K1 (là bố đẻ bà T1) có đơn đề nghị với UBND phường về việc ông T xây hàng rào, lấp không cho đi vào khu đất thổ cư của bà Nguyễn Kim T1 là con gái ông K1. Đề nghị UBND phường giải quyết để có đường đi lại để canh tác, sinh hoạt.

Ngày 20/4/2007 UBND phường T có biên bản làm việc căn cứ vào đơn đề nghị của ông Nguyễn Văn K1 về việc giải quyết lối đi giữa đất hộ bà T1 (con gái ông K1) và hộ ông Vũ Xuân T. Hiện trạng ông T đang xây tường rào có kích thước tại vị trí đang đề nghị giải quyết dài 2,5m, cao 0,6m tường xây gạch ba vanh.

Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 15/10/2008 của Thanh tra Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cũng thể hiện diện tích tranh chấp là đường đi chung, phía tiếp giáp với khu đất bà T1 chiều dài là 2,5m cùng toàn bộ các biên bản hòa giải hòa giải ở cơ sở bà T1 đều chỉ có ý kiến đề nghị giải quyết lối đi chung.

Tại phiên tòa bà T1 cũng khẳng định diện tích đất xây tường rào đang có tranh chấp không nằm trên diện tích đất đường đi chung đã khởi kiện trước đó.

Do đó xác định năm 2007 khi ông T xây tường rào các bên không có tranh chấp về ranh giới mà chỉ tranh chấp lối đi chung có chiều rộng 2,5m đi qua nhà ông T vào đất nhà bà T1. Tranh chấp này đã được giải quyết xong bằng bản án dân sự phúc thẩm số 16 ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Việc ông T xây tường rào từ năm 2007, các bên sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Thời điểm phát sinh tranh chấp từ năm 2020 khi ông T làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà T1 không đồng ý ký xác nhận giáp ranh.

Bà T1 xác định ranh giới giữa thửa 172 và thửa đất không số của gia đình bà là hàng rào cây cúc tần nhưng hiện nay hàng rào này không còn tồn tại, bà T1 cũng không xác định được vị trí cụ thể của hàng rào cúc tần trên thực địa hiện nay. Ngoài ra bà T1 không còn căn cứ nào khác để chứng minh diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông T là có căn cứ chấp nhận. Công nhận diện tích đất tranh chấp 5,18m2 (là đoạn nối các điểm D,2,3,4,A,B,C,D trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của gia đình ông Vũ Xuân T.

[5] Xét yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Kim T1

Như đã phân tích ở trên, yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Kim T1 đối với 0,4m2 đất (là đoạn nối các điểm 1,D,C,E,1 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9); đề nghị Tòa án công nhận toàn bộ diện tích đất 5,58m² (là đoạn nối các điểm 1,2,3,4,A,B,C,E,1 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và buộc ông T tháo dỡ tường rào đã xây lấn chiếm trên đất của gia đình bà là không có căn cứ chấp nhận.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Nguyễn Kim T1 buộc ông Vũ Xuân T bồi thường cây cối ông T đã chặt phá do bà T1 đã rút yêu cầu khởi kiện.

[6] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

6.1. Về án phí: Bà T1 là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.

6.2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn là ông T được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà T1 phải chịu toàn bộ số tiền xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc bằng máy diện tích đất tranh chấp do ông T đã tạm ứng. Do đó bà Nguyễn Kim T1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Vũ Xuân T số tiền 9.000.000 đồng.

[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; 156, 157, 158, 164, 165, 166 và Điều 227 Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ T10 quy định về hồ sơ địa chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Xuân T đối với bà Nguyễn Kim T1 về tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất. Công nhận diện tích đất tranh chấp 5,18 m² (là đoạn nối các điểm D,2,3,4,A,B,C,D trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của gia đình ông Vũ Xuân T. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 223812 do UBND thị xã S cấp ngày 14/6/1991 mang tên Nguyễn Thị Thu T3.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Kim T1 về việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đối với 0,4m² đất (là đoạn nối các điểm 1,D,C,E,1 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9); đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất 5,58m² (là đoạn nối các điểm 1,2,3,4,A,B,C,E,1 trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A230594 ngày 11/02/1991 mang tên Nguyễn Kim T1 và buộc ông T tháo dỡ tường rào xây lấn chiếm.
  3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Nguyễn Kim T1 buộc ông Vũ Xuân T bồi thường cây cối ông T đã chặt phá.
  4. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Kim T1 có trách nhiệm thanh toán cho Ông Vũ Xuân T số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Kim T1 được miễn án phí nên được hoàn lại 300.000 tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001098 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

(Kèm theo bản án là bản trích đo hiện trạng sử dụng đất của Công ty cổ phần T9)

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - Chi cục THA DS TP. Sông Công;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 20/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Xuân T đối với bà Nguyễn Kim T1 về tranh chấp quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất. Công nhận diện tích đất tranh chấp 5,18 m2 (là đoạn nối các điểm D,2,3,4,A,B,C,D trên bản trích đo hiện trạng của Công ty cổ phần T9 và xây dựng số 6) thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của gia đình ông Vũ Xuân T. Đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 223812 do UBND thị xã S cấp ngày 14/6/1991 mang tên Nguyễn Thị Thu T3.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger