Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Lâm

Ông Lê Nam Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo

Bị cáo: Đỗ Văn L, sinh năm 1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đại D, sinh năm 1953, con bà Trịnh Thị T, sinh năm 1957, bị cáo có vợ là Mai Thị N, sinh năm 1987 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1996.

Trú tại: Thôn G, xã P, huyện H, Thanh Hóa. (Vắng mặt)

Người chứng kiến: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983.

Trú tại: Thôn B B, xã H, huyện H, Thanh Hóa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 29/02/2024, tổ công tác Công an huyện H đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường khu vực chợ thuộc thôn B B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa phát hiện, bắt giữ Nguyễn Văn T1, sinh năm 1996, trú tại Thôn G, xã P, huyện H ngay sau khi vừa sử dụng ma tuý loại Heroin. Tại chỗ, lực lượng Công an huyện H thu giữ của Nguyễn Văn T1 01 điện thoại SAMSUNG màu xanh cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0379 405 722, T1 khai nhận dùng để liên hệ với Đỗ Văn L để mua ma tuý; tiến hành thu giữ của Đỗ Văn L 300.000 đồng và 01 điện thoại OPPO màu xanh đen cũ đã qua sử dụng gắn sim số 0922 267 809, L khai nhận đó là số tiền vừa bán ma tuý cho Nguyễn Văn T1 mà có và điện thoại dùng liên hệ bán ma tuý; 01 gói giấy kẻ oly bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn là ma tuý loại Heroin được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, Đỗ Văn L khai nhận mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Văn L nhưng không thu giữ được gì liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra Đỗ Văn L khai nhận, số ma tuý bán cho Nguyễn Văn T1 còn lại bị thu giữ là do bị cáo nhờ một người đi xe ôm mua với giá 500.000 đồng tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình nên bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể.

Tại bản kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng dạng vụn của phòng bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,212g (Không phẩy hai một hai gam), loại Heroin.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSHL ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Đỗ Văn L, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251, của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về mức hình phạt chính: Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn L, mức án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 02 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T phát hành. Sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng theo Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 14 tháng 5 năm 2024; 01 điện thoại điện thoại SAMSUNG màu xanh bị thủng vỡ màn hình, gắn sim số 0379 405 772 của Nguyễn Văn T1 (cũ đã qua sử dụng) và 01 điện thoại OPPO màu đen, gắn sim số 0922 267 809 của Đỗ Văn L (cũ đã qua sử dụng). Toàn bộ vật chứng được bàn giao, bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 5 năm 2024 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Bị cáo không có ý kiến, quan điểm tranh luận về tội danh và về mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho các bị cáo hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội sớm trở về địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại trong hoạt động tố tụng, đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự, tố tụng hình sự là đầy đủ và có căn cứ.

[2].Về chứng cứ buộc tội: Bị cáo khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2023 nên đã mua ma túy tại Ninh Bình để về cất giấu sử dụng. Ngày 29/02/2024, bị cáo nhận được điện thoại hỏi mua ma túy thì bị cáo đã bán lấy số tiền 300.000 đồng, sau đó bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám xét chỗ ở, lời khai của người liên quan, người chứng kiến vụ việc và phù hợp với khối lượng là 0,212g (không phẩy hai một hai gam), loại Heroin được niêm phong, giám định, theo bản kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Do đó có đủ cơ sở khẳng định, toàn bộ khối lượng ma túy trên là của bị cáo Đỗ Văn L nhằm mục đích mua bán kiếm lời thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo Đỗ Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Xét tính chất của vụ án: Tội phạm ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy nói chung có tác hại đến sức khỏe con người và có thể nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Tội phạm về ma túy không những xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội, mà còn xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, nên cần phải xử lý nghiêm, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhận thấy: Bị cáo Đỗ Văn L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của BLHS. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, gia đình có bố đẻ là thương binh hạng 4/4, ngoài ra không còn căn cứ giảm nhẹ nào khác.

[5]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo gây ra, lấy đó làm bài học sau khi mãn hạn tù trở về gia đình, cộng đồng sinh sống.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị để bảo đảm điều kiện thi hành, nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 35 BLHS.

[7]. Trong vụ án này Nguyễn Văn T1 là người mua ma tuý của bị cáo L để sử dụng, số ma túy mua xong đã sử dụng hết nên không thu giữ được khối lượng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H chuyển hồ sơ đối với Nguyễn Văn T1 đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

[8]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì thư có đặc điểm mô tả đã được niêm phong, bên trong có chứa đựng mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng theo giấy Ủy nhiệm chi lập ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Kho bạc nhà nước huyện H, và 02 điện thoại di động của bị cáo và của Nguyễn Văn T1. Toàn bộ vật chứng được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH -14 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 và khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đỗ Văn L 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì thư có đặc điểm mô tả đã được niêm phong, bên trong có chứa đựng mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng theo giấy Ủy nhiệm chi lập ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Kho bạc nhà nước huyện H, và 02 điện thoại di động của bị cáo và của Nguyễn Văn T1. Toàn bộ vật chứng được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Văn L, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - Chi cục THA DS huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Nghi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Nam Văn Phan Văn Lâm Nguyễn Văn Nghi
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 20/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger