|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS - ST Ngày 27/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Thi
Ông Nguyễn Hữu Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận và bà Hứa Thị Hồng T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS, ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Ma Văn H, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1974 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 3/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 sinh năm 1944 (đã chết) và bà Ma Thị T2 sinh năm 1939; vợ là Nông Thị T3 sinh năm 1979; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Phương B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Ma Văn Q, sinh năm 1990 - Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1979 - Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1978 - Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
Ông Nông Văn Â, sinh năm 1987 - Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
Anh Quách Văn D, sinh năm 1989 - Địa chỉ: Thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
Ông Hoàng Văn P, sinh năm 1971 - Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
Anh Lục Thanh T4, sinh năm 1989 - Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút ngày 12/5/2024, tại thôn Bản Mạn, xã B, huyện P, Đội điều tra tổng hợp Công an huyện P bắt quả tang Ma Văn H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO đã qua sử dụng, 07 gói nhỏ bên trong đều chứa chất màu đen dạng nhựa dẻo nghi là ma túy loại thuốc phiện, đã niêm phong trong phong bì ký hiệu H1. Ma Văn H khai nhận, số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang là ma túy loại thuốc phiện, mua với Lương Văn H1, trú tại xóm P, xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng về để bán cho người khác, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và công trình liên quan của H tại thôn B, xã B, huyện P không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Ngày 12/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, phương tiện của Lương Văn H1, tại xóm P, xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng, đã tạm giữ của H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 12.000.000₫ (mười hai triệu đồng).
Tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Ma Văn H, kết quả: Tổng số chất màu đen dạng nhựa dẻo trong phong bì ký hiệu H1 có khối lượng là 12,5g (Mười hai phẩy năm gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất màu đen thu giữ của H được niêm phong vào phong bì ký hiệu G1 và gửi mẫu đi giám định. Giấy gói, vỏ phong bì cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu G2 để bảo quản theo quy định.
Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 103/QĐ-CSĐT để xác định khối lượng, loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số 155/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu đen dạng nhựa dẻo trong phong bì ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại thuốc phiện, được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất màu đen dạng nhựa dẻo trong phong bì ký hiệu G1 có khối lượng là 12,5 (mười hai phẩy năm gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu G1 còn lại 9,8g (chín phẩy tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T94 hoàn trả cho cơ quan trưng cầu.
Quá trình giải quyết vụ án, bị can Ma Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân: Hợi không sử dụng ma túy, nhưng biết Lương Văn H1 có ma túy, loại thuốc phiện để bán nên nảy sinh ý định mua ma túy với H1 về chia nhỏ ra bán cho người khác kiếm lời. H đã mua ma túy với H1 hai lần, lần thứ nhất, đầu tháng 5/2024, H liên lạc trước qua điện thoại với H1 để hỏi mua ma túy thì H1 đồng ý, sau đó H tự mình điều khiển xe mô tô đi đến địa phận xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng thì gặp H1, H đưa cho H1 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), H1 đưa cho H 01 gói ma túy, loại thuốc phiện. Đến ngày 09/5/2024, H tiếp tục một mình đi đến xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng mua với H1 01 gói ma túy, loại thuốc phiện giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, H tự chia ra thành các gói nhỏ để bán cho người khác. Khi có người gọi điện liên lạc hỏi mua ma túy, H hẹn địa điểm và đem ma túy đến bán cho người nghiện. H đã được bán ma túy cho 04 người, gồm:
- - Bán cho Nông Văn Â, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã B, huyện P một lần. Khoảng 10 giờ ngày 12/5/2024, H bán 01 gói ma túy với giá 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) cho  tại khu vực T, thuộc thôn Bản Mạn, xã B, huyện P, lần này  trả tiền mặt cho H.
- - Bán cho Hoàng Văn P, sinh năm 1971, trú tại thôn P, xã B, huyện P một lần. Khoảng 15 giờ ngày 10/5/2024, H bán cho P 01 gói ma túy với giá 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng), tại nhà xát thóc của H thuộc thôn Bản Mạn, xã B, huyện P. P trả tiền mặt cho H.
- - Bán cho Lục Thanh T4, sinh năm 1989, trú tại thôn B, xã B, huyện P 02 lần. Lần thứ nhất, đầu tháng 5/2024, H bán cho T4 01 gói ma túy với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Lần thứ hai, khoảng 20 giờ ngày 09/5/2024, H bán cho T4 01 gói ma túy với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Các lần đều bán tại trước cửa nhà xát thóc của H tại thôn B, xã B, huyện P và T4 đều trả bằng tiền mặt.
- - Bán cho Quách Văn D, sinh năm 1989, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P 01 lần. Đầu tháng 5/2024, H bán cho D 01 gói ma túy với giá 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), tại trước cửa nhà của D tại thôn Đ, xã B, huyện P, sau đó D trả tiền cho H bằng cách chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho H số tiền 600.000đ.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định các vị trí Hợi bán ma túy cho người nghiện. Ngày 14/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Ma Văn H, Hoàng Văn P, Lục Thanh T4 và Nông Văn  tự diễn lại toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại thôn B, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả thực nghiệm điều tra về địa điểm, vị trí và hành vi phạm tội đều phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị can, lời khai của những người làm chứng.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSPN ngày 13/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Ma Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù, phạt bổ sung từ 5 đến 6 triệu đồng. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị miễn án phí cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 5/2024 đến ngày 12/5/2024, Ma Văn H đã hai lần đi đến xã S, huyện B, tỉnh Cao Bằng mua được 02 gói ma túy, loại thuốc phiện với giá 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H tự chia thành các gói nhỏ để bán cho người khác kiếm lời. Tại thôn Bản Mạn, xã B và thôn Đ, xã B, huyện P, H đã bán ma túy cho người khác 05 lần, thu được tổng số tiền 2.500.000 đồng. Trong đó, bán cho Nông Văn  01 lần 01 gói ma túy thu được 700.000 đồng, bán cho Hoàng Văn P 01 lần 01 gói ma túy thu được 700.000 đồng, bán cho Quách Văn D 01 lần 01 gói ma túy thu được 600.000 đồng, bán cho Lục Thanh T4 02 lần, lần đầu bán 01 gói ma túy thu được 200.000 đồng, lần thứ hai bán 01 gói ma túy thu được 300.000 đồng. Số ma túy thu giữ được của bị cáo Ma Văn H là 12,5 gam bị cáo chưa kịp bán.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
- Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm ......
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
- Phạm tội 02 lần trở lên
- ......
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội.
[3].Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nông Văn Â, Lục Thanh T4, Quách Văn D, Hoàng Văn P, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để nộp lại số tiền bán ma túy mà bị cáo đã tiêu dùng hết, do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, tuy nhiên cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh xác định gia đình bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước và để răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, máy có số IMEI1: 861.428.059.612.011, số IMEI2: 861.428.059.612.003, được gắn 02 sim nhà mạng VIETTEL, số seri sim 1 là 898.404.800.006.462.2xxx, số seri sim 2 là 898.404.800.003.448.2xxx tạm giữ của Ma Văn H, niêm phong trong phong bì ký hiệu H2. Bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, do vậy cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
- - 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu H1 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 phong bì niêm phong ký hiệu T94, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ và toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra thu giữ của Lương Văn H1 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và số tiền 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng) là tài sản của Lương Văn H1, không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[5] Về biện pháp tư pháp
Bị cáo bán ma túy cho Nông Văn Â, Lục Thanh T4, Quách Văn D, Hoàng Văn P thu được tổng số tiền 2.500.000 đồng nhưng bị cáo đã tiêu dùng cá nhân hết. Do vậy cần buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000 đồng do bán ma túy mà có.
Ngày 24/9/2024 bị cáo đã tác động gia đình nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm số tiền 2.500.000đ theo biên lai thu số 0001971. Do vậy cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[6]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[7]. Đánh giá việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nông Văn Â, Lục Thanh T4, Quách Văn D, Hoàng Văn P, bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để nộp lại số tiền bán ma túy mà bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn dưới mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo là người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy đề nghị của người bào chữa là có căn cứ nên được xem xét.
[8]. Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Quá trình giải quyết vụ án, bị can Ma Văn H khai nguồn gốc số ma túy, loại thuốc phiện do H mua với Lương Văn H1, kết quả đấu tranh không chứng minh được H1 có liên quan đến hành vi phạm tội của Ma Văn H, nên không có căn cứ để xử lý.
Về phương tiện H sử dụng, 02 lần H đi mua ma túy tại huyện B, tỉnh Cao Bằng và lần H mang ma túy đến bán cho Quách Văn D tại xã B, huyện P, H đều mượn xe mô tô của anh Ma Văn Q, sinh năm 1990, trú tại thôn B, xã B, huyện P (là cháu của H) nhưng H không biết là đã mượn chiếc xe nào. Gia đình anh Q có 03 chiếc xe mô tô và thường xuyên cho H mượn để đi lại, anh Q không để ý là H đã mượn chiếc xe nào và không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội, H cũng không nói cho anh Q biết, do vậy không có căn cứ để xử lý đối với Ma Văn Q.
Đối với Nông Văn Â, Lục Thanh T4, Quách Văn D và Hoàng Văn P là những người có quan hệ quen biết và không có mâu thuẫn gì với H, đã mua ma túy với H về để sử dụng nhưng hành vi không cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý.
Ngoài ra, ban đầu H khai còn được bán ma túy cho Hoàng Văn N, sinh năm 1979, trú tại thôn N, xã B, huyện P và Hoàng Văn Đ, sinh năm 1978, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P, nhưng sau đó H xác định không được bán ma túy cho hai người này, qua đối chất N và Đ cũng đều khẳng định không được mua ma túy với H, nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin Hội đồng xét xử miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Ma Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Ma Văn H 06 (Sáu) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2024.
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Ma Văn H 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu G2, bên trong có giấy gói, vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu H1.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T94, bên trong chứa phong bì, bao gói cũ và toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định.
- - Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO đã qua sử dụng, có số IMEI 1 là 861.428.059.612.011, số IMEI 2 là 861.428.059.612.003, được gắn 02 sim nhà mạng VIETTEL, số seri sim 1 là 898.404.800.006.462.2xxx, số seri sim 2 là 898.404.800.003.448.2xxx tạm giữ của Ma Văn H, niêm phong trong phong bì ký hiệu H2.
- (Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
- - Buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) do bán ma túy mà có.
- - Tạm giữ số tiền 2.500.000đ tại biên lai thu số 0001971 ngày 24/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thanh Tuấn |
Bản án số 20/2024/HS - ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 20/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Văn H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
