|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-PT |
Ngày 10-7-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Mạnh Hùng |
| Các Thẩm phán: | Ông Vũ Văn Túc |
| Bà Hoàng Ngọc Liễu |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Thư ký TAND tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình: Bà Bùi Thị Thảo Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/HSPT ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Phúc L do có kháng cáo của bị cáo Ngô Phúc L đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:
NGÔ PHÚC LONG; sinh năm 1991 tại Hòa Bình; nơi cư trú: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Phúc L1, sinh năm 1965 và con bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1967; vợ, con: chưa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Ngoài ra vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 4/2022, bị cáo Ngô Phúc L có cho bị hại Hà Tuấn A, sinh ngày 08/12/2006 vay số tiền 2.000.000đ và thỏa thuận lãi suất bằng miệng là 10.000đ/01 triệu/ngày, qua nhiều lần trả lãi số tiền Tuấn A đã trả cho L là 1.200.000đ (một triệu hay trăm nghìn đồng), sau đó Tuấn A đi khỏi địa phương. Thời gian này, L nhiều lần gọi điện và lên nhà tìm Tuấn A để đòi nợ nhưng không gặp được Tuấn A.
Đến 15 giờ ngày 15/8/2022, khi gặp Tuấn A đang đi làm căn cước công dân trong sân Công an huyện Đ, L đã giật chiếc điện thoại di động Samsung galaxy A6 mà Tuấn A đang cầm ở tay với mục đích để Tuấn A đi theo mình ra cổng và nhờ Đinh Việt H1 đưa Tuấn A xuống quán ăn “Nam Béo” tại tiểu khu L, thị trấn Đ để nói chuyện về việc vay nợ trước đó. Tại quán ăn do nghĩ Tuấn A trốn mình không trả tiền và bực tức vì nhiều lần không liên lạc được với Tuấn A để đòi nợ nên L có hành vi dùng tay và 01 chiếc dép đánh vào mặt và đầu Tuấn A nhiều lần để giải toả cơn bực tức. Thấy L đánh mình nên Tuấn A đã chủ động đề nghị được gọi điện cho mẹ là chị Nguyễn Thị T để nhờ mẹ trả nợ cho mình, L đưa lại chiếc điện thoại đang cầm cho Tuấn A để gọi cho mẹ nhưng không liên lạc được. Lúc này, do chờ lâu không thấy Tuấn A gọi được cho mẹ, L mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách bắt Tuấn A đi cầm cố chiếc điện thoại Tuấn A đang sử dụng để trả tiền cho mình, nhưng Tuấn A không đồng ý và nói với L đây là điện thoại mượn của em trai Hà Anh T1, mặt khác Tuấn A cũng nói không biết chỗ cầm cố điện thoại để không phải thực hiện theo yêu cầu của Ngô Phúc L, sau đó L có lời lẽ đe doạ làm bị hại lo sợ nên đã đi theo L rồi cầm cố điện thoại tại quán mua bán sửa chữa điện thoại của anh Bùi Thái S được 400.000đ và đưa cho L số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) trái ý muốn của mình. Sau đó Tuấn A mang một chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO bán cho anh S được 1.500.000đ rồi chuộc lại chiếc điện thoại SAMSUNG đã cầm cố trước đó và đã trả thêm cho L 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền lãi. Đến ngày 17/4/2023, chị Nguyễn Thị T biết việc Tuấn A còn nợ L tiền do L nhiều lần lên nhà tìm gặp nên đã thỏa thuận và trả số nợ gốc cho L là 2.000.000đ và chấm dứt việc vay nợ.
Ngày 27/5/2023, Hà Tuấn A trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ về việc Ngô Phúc L có những hành vi đe dọa, yêu cầu Tuấn A cầm cố tài sản trái ý muốn của Hà Tuấn A.
Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình quyết định: Tuyên bố bị cáo Ngô Phúc L phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Phúc L 30 tháng tù.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/5/2024 bị cáo Ngô Phúc L có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định;
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự, áp dụng mức hình phạt 30 tháng tù có là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới gia đình được tặng thưởng gia đình văn hóa nhiều năm liền, đồng thời bị cáo nhận thức hạn chế do di chứng tai nạn bị mổ não. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để được hưởng án treo.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Bị cáo kháng cáo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
-
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Bị cáo Ngô Phúc L đã có hành vi đe doạ dùng vũ lực yêu cầu bị hại miễn cưỡng phải đem cầm cố tài sản của mình được 400.000 đồng, sau khi cầm cố được tiền để đưa cho bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản đối với Hà Tuấn A tại thời điểm bị hại Hà Tuấn A mới 15 tuổi, 8 tháng 07 ngày. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Ngô Phúc L về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo:
Tòa án cấp sơ thẩm xét bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, đã tự nguyện bồi thường tài sản và tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 4.000.000đ; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có ông nội được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì; bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, làm nhiệm vụ Quốc tế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm chứng cứ mới, gia đình bị cáo nhiều năm được công nhận là gia đình văn hoá, tại phiên toà bị cáo trình bày bị ảnh hưởng tâm lý và nhận thức pháp luật hạn chế do di chứng để lại sau khi phẫu thuật chấn thương sọ não, trong vụ án này bị hại có một phần lỗi, bị cáo phạm tội bột phát, nhất thời. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng.
Căn cứ Nghị quyết văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Xét bị cáo có đủ điều kiện để xem xét, áp dụng, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Phúc L cho bị cáo được hưởng án treo, cũng đủ giáo dục cải tạo và sửa chữa sai lầm, thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Phúc L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đối với bị cáo Ngô Phúc L, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Ngô Phúc L phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Phúc L 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Ngô Phúc L cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Phúc L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN |
| CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Vũ Văn Túc Hoàng Ngọc Liễu | Nguyễn Mạnh Hùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 20/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)
- Số bản án: 20/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Phúc L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đối với bị cáo Ngô PhúcL
