Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/KDTM-ST

Ngày: 26/7/2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa – Cán bộ hưu trí;

Bà Vương Thị Khánh Loan – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 129/2023/TLST- KDTM ngày 08/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2024/QÐST-KDTM ngày 21/6/2024 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử vụ án ngày 04/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V

Địa chỉ trụ sở chính: 89, đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý.

Ông Đỗ Thành T ủy quyền lại cho: Ông Phạm Đức C – Chuyên viên xử lý nợ KHDN MN và ông Ma Khắc K – Trưởng bộ phận xử lý nợ KHDN MN.

Địa chỉ: Tầng B, B Xa lộ H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền số 116/2023/UQ-PGD ngày 20/7/2023).

- Bị đơn: Công ty TNHH L

Địa chỉ trụ sở chính: Số A, tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê S - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê S, sinh năm 1975

2. Bà Phan Thị U, sinh năm 1978

Cùng địa chỉ thường trú: Số A, tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ cư trú hiện nay: Số A, tổ I, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông C và ông S có mặt; bà U vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa - ông Phạm Đức C – Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH L1 đã vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần V theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: QN2/22903 ngày 30/09/2022, được giải ngân bằng Khế ước nhận nợ lần 01 số: QN2/22903/01 ngày 30/09/2022, Nội dung cụ thể như sau:

  • - Số tiền vay: 1.187.000.000 đồng.
  • - Thời hạn vay: 06 tháng.
  • - Lãi suất: 21%/năm, điều chỉnh 1 tháng/1 lần.
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh: Sản xuất, lắp đặt hệ thống cấp thoát nước, hệ thống sưởi và điều hòa không khí, hệ thống điện.

Để đảm bảo thực hiện hợp đồng vay, Ngân hàng thương mại cổ phần V và ông Lê S, bà Phan Thị U đã ký kết Hợp đồng bảo lãnh số: QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Lê S, bà Phan Thị U.

Qúa trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V từ ngày 06/03/2023, kể từ thời điểm này khoản nợ của Công ty TNHH L1 đã chuyển quá hạn. Ngân hàng đã gửi thông báo, làm việc, yêu cầu khách hàng thanh toán nhưng khách hàng vẫn không thanh toán.

Cụ thể số tiền gốc và lãi Công ty TNHH L1 đã trả cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 26/07/2024 như sau: Trả gốc: 978 đồng; trả lãi: 93.601.811 đồng.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc Công ty TNHH L1 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 26/07/2024 là: 1.781.149.177 đồng (Một tỷ bảy trăm tám mươi mốt triệu một trăm bốn mươi chín nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là: 1.186.999.022 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín nghìn không trăm hai mươi hai đồng), N lãi: 591.257.747 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng), N lãi chậm trả: 2.892.408 đồng (Hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn bốn trăm lẻ tám đồng).

Ngoài ra, kể từ ngày 27/07/2024, Công ty TNHH L1 vẫn phải tiếp tục thanh toán tiền nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V.

2. Trường hợp Công ty TNHH L2 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trên, buộc ông Lê S và bà Phan Thị U có trách nhiệm phải trả nợ số tiền nêu trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần V theo Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022.

* Tại phiên tòa và tại bản tự khai ngày 09/4/2024 – Người đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày:

Ngày 30/9/2020 Công ty TNHH L3 vay hạn mức số QN2/22903 ngày 30/09/2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V vay số tiền 1.187.000.000 đồng, thời hạn vay 6 tháng, lãi suất 21 %/năm để bổ sung vốn kinh doanh. Trong quá trình vay do Công ty G nên không có khả năng trả cho Ngân hàng. Tính đến ngày 26/7/2024 Công ty TNHH L1 mới trả được cho ngân hàng số tiền gốc là 978 đồng và tiền lãi là 93.601.811 đồng, Công ty TNHH L1 còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền gốc là 1.186.999.022 đồng, nợ lãi 591.257.747 đồng, lãi chậm trả là 2.892.408 đồng. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH L1 phải trả số tiền gốc và lãi nêu trên thì Công ty TNHH L1 đồng ý trả cho Ngân hàng.

* Tại phiên tòa và tại bản tự khai ngày 09/4/2024 - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê S trình bày:

Ngày 30/9/2022, ông Lê S và vợ là Phan Thị U có ký Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V để bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản của ông Lê S và bà Phan Thị U đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số QN2/22903 ngày 30/09/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V với Công ty TNHH L1 với số tiền vay là 1.187.000.000 đồng. Ông đồng ý với các thỏa thuận trong Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 đã ký với Ngân hàng. Trong trường hợp Công ty TNHH L2 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì vợ chồng ông bà có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay trên theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký, đồng thời vợ chồng ông bà đồng ý dùng tài sản cá nhân của ông bà để đảm bảo thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

* Tại bản tự khai ngày 21/6/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị U trình bày:

Ngày 30/9/2022 bà cùng với chồng bà là ông Lê S có ký Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V để bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản của vợ chồng ông bà đối

với Hợp đồng cho vay hạn mức số QN2/22903 ngày 30/09/2022 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V với Công ty TNHH L1 với số tiền vay là 1.187.000.000 đồng. Do Công ty TNHH L4 khó khăn nên không trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH L1 phải trả tổng số tiền tính đến 21/6/2024 là 1.741.681.759 đồng trong đó nợ gốc là 1.186.999.022 đồng, nợ lãi là 551.989.218 đồng, nợ lãi chậm trả là 2.693.519 đồng. Nay bà đồng ý với các thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh đã ký với Ngân hàng, vợ chồng ông bà đồng ý dùng tài sản cá nhân của ông bà để đảm bảo thực hiện trả nợ cho ngân hàng trong trường hợp Công ty TNHH L1 không trả được nợ cho Ngân hàng.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

Việc tuân theo quy định pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Qua kiểm sát giải quyết vụ án dân sự từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong vụ án này, các đương sự được Thẩm phán xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời hạn luật định.

Về việc tuân thủ pháp luật của các đương sự: Ngân hàng thương mại cổ phần V, Công ty TNHH L1, ông Lê S thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị U không chấp hành theo quy định pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Buộc Công ty TNHH L1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 26/7/2024 là 1.781.149.177 đồng (Một tỷ bảy trăm tám mươi mốt triệu một trăm bốn mươi chín nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng). Công ty TNHH L1 phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, và phí phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng.

Trong trường hợp Công ty TNHH L2 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì ông Lê S và bà Phan Thị U phải dùng tài sản cá nhân của ông Lê S và bà Phan Thị U để thanh toán toàn bộ khoản nợ nói trên tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V của Công ty TNHH L5 Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Về án phí KDTM-ST: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn Công ty TNHH L6 chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH L1 phải trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Công ty TNHH L1 có địa chỉ trụ sở tại: A, tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về tư cách đương sự: Căn cứ Điều 68 xác định Ngân hàng thương mại cổ phần V là nguyên đơn; Công ty TNHH L7; ông Lê S và bà Phan Thị U là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Về thủ tục tố tụng

Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo về việc thay đổi lịch xét xử theo quy định của pháp luật đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị U; nhưng bà Phan Thị U vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị U.

[3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH L1 phải trả nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số QN2/22903 ngày 30/09/2022 với số tiền vay là 1.187.000.000 đồng. Quá trình vay, Công ty TNHH L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết nên phát sinh tranh chấp. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Ngân hàng thương mại cổ phần V căn cứ vào chứng cứ là: Hợp đồng cho vay hạn mức, khế ước nhận nợ, các bảng tính gốc lãi thể hiện nội dung ngày 30/9/2022 Công ty TNHH L1 đã ký hợp đồng cho vay hạn mức số QN2/22903 để vay của Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Q số tiền gốc là 1.187.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện bị đơn Công ty TNHH L1 cũng thống nhất với lời trình bày và nội dung khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V. Công ty TNHH L8 tính đến ngày 26/7/2024 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 1.186.999.022 đồng, nợ lãi 591.257.747 đồng, lãi chậm trả là 2.892.408 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH L1 phải trả số tiền gốc và lãi nêu trên thì Công ty TNHH L1 đồng ý trả cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của đại diện bị đơn Công ty TNHH L

Như vậy, lời trình bày của đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần V cho Công ty TNHH L1 vay các khoản tiền theo hợp đồng cho vay hạn mức nói trên như Ngân

hàng trình bày là có thật và có cơ sở để chấp nhận (theo Điều 92, Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự).

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc yêu cầu ông Lê S và bà Phan Thị U có trách nhiệm phải trả số tiền Công ty TNHH L1 còn nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V theo Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Ngày 30/9/2022 ông Lê S và bà Phan Thị U có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh Q Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN, theo nội dung hợp đồng bảo lãnh ông Lê S, bà Phan Thị U cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông bà cho bên được bảo lãnh là Công ty TNHH L9 việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ tương lai phát sinh từ hợp đồng cho vay hạn mức số QN2/22903 ngày 30/9/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với Công ty TNHH L Xét hợp đồng bảo lãnh được ký kết hoàn toàn tự nguyện, không trái với các quy định của pháp luật nên được xem là hợp pháp.

Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án ông Lê S và bà Phan Thị U cũng thống nhất đồng ý với các thỏa thuận trong Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN, ông bà đồng ý dùng tài sản cá nhân của mình để đảm bảo thực hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp Công ty TNHH L2 th ực hiện nghĩa vụ thanh toán thì vợ chồng ông bà có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ trên theo hợp đồng bảo lãnh đã ký với Ngân hàng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê S và bà Phan Thị U.

Như vậy, lời trình bày của đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc giữa Ngân hàng và ông Lê S và bà Phan Thị U có ký kết hợp đồng bảo lãnh nói trên như Ngân hàng trình bày là có thật và có cơ sở để chấp nhận (theo Điều 92, Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự).

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần V về yêu cầu buộc Công ty TNHH L1 phải trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V với tổng số tiền nợ tính đến ngày 26/7/2024 là 1.781.149.177 đồng (Một tỷ bảy trăm tám mươi mốt triệu một trăm bốn mươi chín nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là: 1.186.999.022 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín nghìn không trăm hai mươi hai đồng), N lãi: 591.257.747 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng), N lãi chậm trả: 2.892.408 đồng (Hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn bốn trăm lẻ tám đồng). Công ty TNHH L1 tiếp tục phải trả phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đã ký kết với Ngân hàng kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trong trường hợp Công ty TNHH L2 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì ông Lê S và bà Phan Thị U phải dùng tài sản cá nhân của ông Lê S và bà Phan Thị U để thanh toán toàn bộ khoản nợ nói trên của Công ty TNHH L5 Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

[7]Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Công ty TNHH L6 chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 65.434.475 đồng (Sáu mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng).

[8] Lời phát biểu của Kiểm sát viên phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 93; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 220, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 335; Điều 338, Điều 342; Điều 351; Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm có hiệu lực ngày 15/3/2019.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V: Buộc Công ty TNHH L1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền 1.781.149.177 đồng (Một tỷ bảy trăm tám mươi mốt triệu một trăm bốn mươi chín nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó: Nợ gốc là: 1.186.999.022 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi chín nghìn không trăm hai mươi hai đồng), Nợ lãi tạm tính đến ngày 26/7/2024 là: 591.257.747 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng), N lãi chậm trả: 2.892.408 đồng (Hai triệu tám trăm chín mươi hai nghìn bốn trăm lẻ tám đồng).

Công ty TNHH L1 phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, và phí phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng vay kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng.

Trong trường hợp Công ty TNHH L2 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì ông Lê S và bà Phan Thị U phải dùng tài sản cá nhân của ông Lê S và bà Phan Thị U để thanh toán toàn bộ khoản nợ nói trên của Công ty TNHH

L5 Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22903/BLCN ngày 30/09/2022 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Công ty TNHH L6 chịu 65.434.475 đồng (Sáu mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi lăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V 26.476.804 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm lẻ bốn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0009420 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị U có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THA dân sự
  • TP. Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/KDTM-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tc hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger