|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC-TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Mạnh Nhanh và ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Đinh Công Q, sinh năm 1985.
Tên gọi khác: không có.
Nơi sinh và nơi cư trú: đội 14, thôn T, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đinh Công Q1 và bà Nguyễn Thị Á; vợ là Dương Thị Mai T và có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không có; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
- Bị hại: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (đã chết).
Nơi cư trú trước khi chết: thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ bà Bạch Thị K, sinh năm 1940 (mẹ đẻ chị H). Vắng mặt.
Địa chỉ: đội G, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
+ anh Đinh Văn T1, sinh năm 1972 (chồng chị H). Vắng mặt.
Địa chỉ: đội G, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
+ anh Đinh Văn T2, sinh năm 1995 (con chị H). Có mặt.
Địa chỉ: đội G, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
+ anh Đinh Văn T3, sinh năm 1997 (con chị H). Vắng mặt.
Địa chỉ: đội G, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bạch Thị K, anh Đinh Văn T1, anh Đinh Văn T3: anh Đinh Văn T2, sinh năm 1995. Có mặt.
Địa chỉ: đội G, thôn V, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tại khu vực ngã 5 T, thị trấn Đ, huyện M đã xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe ô-tô đầu kéo mang Biển kiểm soát: 29H-870.54, Biển kiểm soát somi romooc: 29R-530.05 do Đinh Công Q, sinh năm 1985, trú tại: thôn T, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội điều khiển va chạm với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975, trú tại: thôn V, xã H, huyện M đang đi bộ tại khu vực ngã 5 đường giao nhau theo hướng đi xã H. Hậu quả bà Nguyễn Thị H tử vong tại chỗ.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy định:
* Dấu vết hiện trường:
Hiện trường bị xáo trộn, không còn nguyên vẹn do quá trình người dân và các phương tiện tham giao thông khác đi lại qua khu vực hiện trường.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là khu vực ngã 5 giao cắt giữa đường tỉnh lộ 424 với đường tỉnh lộ 419 và đường liên xã T đi xã H, xã A, mặt cắt tỉnh lộ 419 đi Phù Lưu Tế rộng 20,6m, mặt cắt tỉnh lộ 419 hướng đi TDP Văn Giang, TT Đại Nghĩa rộng 44m, mặt cắt hướng tỉnh lộ 424 đi Hợp Tiến rộng 20m, mặt cắt đường liên xã T đi Hợp Thanh đi A rộng 10m, mặt cắt hướng tỉnh lộ 424 đi cầu Tế Tiêu rộng 24,2m, mặt đường được trải nhựa áp phan thẳng phẳng, khu vực xảy ra tai nạn có đầy đủ đèn tín hiệu giao thông, biển báo hiệu đi theo vòng xuyến, biển cấm đi ngược chiều, vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường có vòng xuyến để các phương tiện đi theo là khu vực đông dân cư, cạnh mép đường đều có vỉa hè dành cho người đi bộ.
Hiện trường lấy mép đường bên phải theo chiều từ cầu T đi xã H làm chuẩn lấy cột Km5+700 đường tỉnh lộ 424 làm mốc hiện trường.
Hiện trường để lại những dấu vết sau:
- Vết số 1: Nạn nhân nữ khoảng 48 tuổi đang trong tư thế nằm úp, mặt nghiêng sang trái theo hướng cầu T đi xã H, đầu nạn nhân hướng xã H, chân nạn nhân cách mép đường chuẩn 6,8m, chân trái nạn nhân cách mép đường chuẩn 8,4m, đầu nạn nhân cách trục số 6 bên phải xe ô-tô đầu kéo biển số 29R-530.05 là vết số 2 cách 13,3m.
- Vết số 2: xe ô-tô tải đầu kéo biển số 29H-870.54 kéo theo sơmi rơmoc biển số 29R-530.05 nhãn hiệu SITRAK, mầu sơn ghi, nhãn hiệu SITRAK-CNHTC tại vị trí đỗ ở giữa phần đường hướng đi xã H, đầu xe hướng đi xã H, đuôi xe hướng cầu T, trục số 1 bên phải cách mép đường chuẩn 3,02m, trục số 2 bên phải cách mép đường chuẩn 3,12m, trục số 3 bên phải cách mép đường chuẩn 3,22m, trục số 4 bên phải cách mép đường chuẩn 3,34m, trục số 5 bên phải cách mép đường chuẩn 3,4m, trục số 6 bên phải cách mép đường chuẩn 3,45m, trục số 6 bên phải vết số 2 cách cột km8+700 đường tỉnh lộ 424 cách 8,7m.
Đầu nạn nhân là vết số 01 cách cột km8 + 700 đường tỉnh lộ 424 cách 14m.
* Dấu vết tử thi Nguyễn Thị H:
Ngày 16/01/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu số 88 trưng cầu Phòng K1 - Công an Thành phố H giám định nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị H.
Kết quả khám ngoài tử thi như sau: quần áo khoác ngoài màu xanh, áo liền mũ, vùng nách áo phải có vết rách sơ vải kích thước (8,5 x 4) cm, trong mặc áo cộc tay cổ tròn màu đen, áo lót màu trắng, áo có thấm máu, mặc quần bò dài mầu đen có dính bẩn, quần lót màu nâu, tai trái có 01 khuyên tai kim loại mầu vàng; vùng cổ có 01 dây chuyền kim loại mầu vàng.
- Tử thi dài 159cm, thể trạng trung bình.
- Tử thi lạnh trong giai đoạn co cứng, hoen tử thi xuất hiện phía sau cơ thể.
* Đầu, mặt, cổ: Tóc đen dài ngang vai, vùng trán có vết rách da nham nhở kích thước (6 x 3,5) cm, lộ xương vì vỡ sọ, thoát tổ chức não ra ngoài, vùng mặt phải rải rác có các vết tụ máu trên diện (15 x 10) cm, tai phải có vết rách da kích thước (1 x 0,4) cm, tổ chức mềm quanh hai hố mắt tụ máu, vùng chóp mũi tụ máu kích thước (4 x 3) cm, gẫy xương cung răng hàm trên và xương hàm dưới, vùng giữa cổ có vết tụ máu kích thước (2 x 3) cm, xương cột sống cổ chắc.
* N, bụng: Vùng ngực hai bên dưới bờ vai 4 cm, da bị tụ máu trên diện (13 x 6,5) cm, vùng bụng dưới nửa ức 10cm da bị tụ máu kích thước (22 x 18) cm, vùng mạn sườn phải xuống đến mặt ngoài đùi phải da bị xây sát kích thước (12 x 10)cm;
* Lưng, mông: Vùng lưng trái từ bờ vai xuống dưới có vết tụ máu kích thước (10 x 8) cm, vùng mông phải sát đường giữa có vết tụ máu kích thước (2 x 1,5) cm.
* Hai tay: Vùng mặt ngoài cẳng tay phải sát dưới mỏm khuỷu có vết xây sát da kích thước (2x1) cm, mu bàn tay phải có các vết tụ máu kích thước (7 x 6,5) cm, mặt ngoài cánh tay có vết tụ máu kích thước (5 x 3) cm, mặt trong cẳng tay trái sát cổ tay có vết tụ máu kích thước (8 x 3)cm, xương khớp hai tay không có tổn thương.
* Hai chân: mặt ngoài đùi phải có vết xây sát da, tụ máu kích thước (20x6) cm, mặt sau đùi phải da bị tụ máu trên diện (12x3) cm, mặt trước gối phải da bị xây sát tụ máu kích thước (3x4) cm, mặt trước cổ chân phải có vết xây sát da kích thước 6 x 3 cm; Mặt trước đùi trái da bị tụ máu kích thước (5x4) cm, mặt sau đùi trái có vết tụ máu kích thước (6x5) cm, mặt trước gối trái có vết xây sước da kích thước (7 x 3) cm, xương khớp hai chân không có tổn thương.
* Bộ phận sinh dục, hậu môn: không có tổn thương.
* Mổ tử thi: Vết thương rách da vùng trái gẫy vỡ xương sọ, tổ chức, nhu mô não dập nát thoát ra ngoài.
Tại Kết luận giám định tử thi số 1276/KLGĐTT-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K1 - Công an T kết luận:
Nguyên nhân chết của nạn nhân: Đa chấn thương.
Thương tích trên cơ thể nạn nhân do va chạm với vật tày cứng gây nên.
Kết quả khám phương tiện là 01 xe ô-tô Biển kiểm soát: 29H-870.54 kèm theo 01 rơ mooc Biển kiểm soát: 29R-530.05: không phát hiện dấu vết gì.
Quá trình điều tra làm rõ như sau:
Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, Đinh Công Q đi nhờ xe ô-tô từ nhà đến ngã tư thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội để bàn giao ca và nhận xe ô-tô đầu kéo mang Biển kiểm soát: 29H-870.54, Biển kiểm soát sơmi romooc: 29R-530.05 để đi chở hàng, Q điều khiển xe ô-tô đến xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình để lấy đất chở đến công trình làm đường tại xã H, huyện M. Ngày 16/01/2024, Q chở được 03 xe đất, đổ xong chuyến cuối cùng vào khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, do trời mưa nên khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Q điều khiển xe theo đường Tỉnh lộ 419 để mang xe về đỗ tại bãi để xe của Công ty K2, trụ sở tại Cầu X thuộc địa phận thôn V, xã H, huyện M. Khi đi đến khu vực ngã 5, thị trấn Đ, Q điều khiển xe ô-tô vòng theo vòng xuyến đi vào đường tỉnh lộ 424 để đi đổ dầu tại cây xăng ở gần bến xe Bus Tế T. Q điều khiển xe ô-tô đi đến ngã 5 Thị Trấn Đ, huyện M thì dừng đèn đỏ, khi đèn chuyển sang xanh thì Q tiếp tục điều khiển xe ô-tô đi theo vòng xuyến. Q quan sát phía bên phải, bên trái để tránh phương tiện từ phía sau vượt lên và phương tiện di chuyển từ hướng xã P đến, do trời mưa hạn chế tầm nhìn nên Q không nhìn thấy bà H đang đi bộ phía trước đầu xe, dẫn đến xe ô-tô do Q điều khiển đâm vào bà H, bánh xe ô-tô chèn qua người làm cho bà H tử vong tại chỗ. Ngay sau khi phát hiện tai nạn, Q xuống xe thấy bà H đã tử vong tại hiện trường, nên đã đến Công an huyện M để đầu thú.
Ngày 17/01/2024, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đĩa CD bên trong có chứa 01 đoạn video thời lượng 39 giây, dung lượng 43MB, được trích xuất từ camera của nhà anh Vũ Văn Q2, sinh năm 1982, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M. Kết quả phân tích hình ảnh C phù hợp với lời khai của Đinh Công Q và tài liệu, chứng cứ thu thập khác về diễn biến vụ việc.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn Đinh Công Q lúc 16 giờ 55 phút ngày 16/01/2024 là: 0.00mg/L. Kiểm tra xét nghiệm ma túy kết quả: Âm tính.
Qua xác minh xác định Đinh Công Q có giấy phép lái xe hạng FC, có giá trị đến ngày 31/12/2027.
Cáo trạng số 13/CT-VKS-MĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố Đinh Công Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận bị cáo và gia đình đã bồi thường, khắc phục xong toàn bộ hậu quả thiệt hại, không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong, không yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.
- Về tang vật:
Đối với 01 xe ô-tô đầu kéo: 29H-870.54 nhãn hiệu: CNHTC, số khung: LZZ1CLVC8PA117863, số máy: MC114450230317202337, somi romooc ô-tô: 29R-530.05, nhãn hiệu JOTUN, số khung: LA9BC40Z4P0JTC210 là anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã H, huyện M. Anh H1 thuê Đinh Công Q là lái xe cho mình. Xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên ngày 05/02/2024. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh H1 là phù hợp, anh H1 không có yêu cầu gì nên không giải quyết.
- Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại khu vực ngã 5, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, Đinh Công Q điều khiển xe ô-tô đầu kéo mang Biển kiểm soát: 29H-870.54, Biển kiểm soát somi romooc: 29R-530.05; khi đi theo vòng xuyến ở ngã 5 thị trấn Đ, trong điều kiện trời mưa, tầm nhìn bị hạn chế nhưng Đinh Công Q đã thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, nên đã va chạm với bà Nguyễn Thị H đang đi bộ qua đường. Hậu quả: bà Nguyễn Thị H tử vong tại chỗ.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào quy định tại khoản 2, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ, khoản 2 và 11 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng đến an toàn, trật tự giao thông đường bộ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; sau khi gây tai nạn đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; được gia đình bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông nội là liệt sĩ.
Ngoài ra xét thấy, hậu quả vụ án xảy ra một phần do lỗi của bị hại khi đi bộ qua đường nhưng không đi đúng phần vạch kẻ đường dành cho người đi bộ.
Nên có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
Xét thấy bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, việc không cách ly xã hội đối với bị cáo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên chỉ cần phạt tù cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cũng bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, kinh tế gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại đều không đề nghị bồi thường gì khác. Xét đây là sự thoả thuận tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không giải quyết.
[6] Về tang vật:
Đối với 01 xe ô-tô đầu kéo nhãn hiệu: CNHTC, Biển kiểm soát: 29H-870.54, số khung: LZZ1CLVC8PA117863, số máy: MC114450230317202337; Biển kiểm soát somi romooc ô-tô: 29R-530.05, nhãn hiệu JOTUN, số khung: LA9BC40Z4P0JTC210 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã H, huyện M. Anh H1 thuê Đinh Công Q lái xe cho mình. Xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng nên ngày 05/02/2024. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh H1 là phù hợp, anh H1 không có yêu cầu gì nên không giải quyết.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 01 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Công Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt Đinh Công Q 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao Đinh Công Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận việc bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại xong cho đại diện hợp pháp của bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.
3. Về án phí: buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Hiệp |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đ260
